Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 – Quy định gì về giao dịch dân sự?

Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về các giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về mặt hình thức như thế nào? Thực tế cho thấy rằng, hình thức của một giao dịch dân sự khá quan trọng. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp khi giao dịch dân sự vi phạm về hình thức nhưng những giao dịch đó vẫn không bị vô hiệu. Vậy cụ thể đó là những trường hợp nào? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu về Điều 129 này thông qua bài viết sau đây của Tổng Đài Pháp Luật 1900.6174.

>>>Luật sư giải đáp miễn phí về Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015. Gọi ngay 1900.6174

Anh Khánh ở Cần Thơ đặt câu hỏi như sau:
Xin chào luật sư! Tôi có câu hỏi muốn được giải đáp cụ thể như sau: Tôi có tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nhưng bên kia đã không thực hiện đúng điều kiện về mặt hình thức của hợp đồng như quy định của pháp luật. Vậy luật sư cho tôi hỏi về vấn đề này thì pháp luật quy định như thế nào? Điều 129 của Bộ luật Dân sự 2015 có những hạn chế bất cập nào? Mong luật sư giải đáp. Tôi xin cảm ơn!

 

Sau khi nhận được câu hỏi từ bạn, Tổng Đài Pháp Luật đã tích cực tìm hiểu và cập nhật các kiến thức pháp luật mới nhất để có thể thông tin và giải đáp cụ thể vấn đề này của bạn như sau:

Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như thế nào về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

 

Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

Theo đó thì các giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì sẽ vô hiệu, trừ các trường hợp sau đây:

– Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng nếu như văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ đã nêu trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định để công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

– Giao dịch dân sự được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm các  quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên và Tòa án ra quyết định để công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Đối với các trường hợp này thì các bên không cần phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.

Như vậy, quy định về việc giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức tại Điều 129 của Bộ luật dân sự 2015 có những thay đổi mới hơn so với Bộ luật dân sự 2005.

dieu-129-bo-luat-dan-su-2015-1

>>>Luật sư giải đáp về Điều 129: Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức. Gọi ngay 1900.6174

Ý nghĩa của Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015

 

Điều luật này đã thể hiện sự coi trọng bản chất, tôn trọng ý chí các bên, một biểu hiện trong việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản nói chung cũng như nguyên tắc cơ bản thứ hai ghi tại khoản 2 Điều 3 của Bộ luật dân sự nói riêng. Như vậy, việc tôn trọng ý chí của các bên không chỉ thể hiện trong việc thực thi mà ngày càng tiến dần đến sự nhất quán trong việc xây dựng các quy định cụ thể của Bộ luật hiện hành.

Sự sửa đổi, bổ sung này ít nhiều cũng đã làm giảm sự can thiệp của Nhà nước vào các quan hệ dân sự, nó không chỉ hợp lý (xét dưới góc độ về lý thuyết) mà còn giàu tính thực tiễn, tăng tính khả quán cho các giao dịch, tăng tính ổn định trong quan hệ dân sự, bảo đảm sự công bằng, minh bạch.

>>>Luật sư giải đáp miễn phí ý nghĩa của Điều 129 của Bộ luật Dân sự 2015. Gọi ngay 1900.6174

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức là trường hợp phổ biến nhất (mua đất bằng giấy tay)

 

Về hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, căn cứ tại Khoản 3 Điều 167 của Luật đất đai 2013 quy định, cụ thể như sau:

– Các hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất hay quyền sử dụng đất cần phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ các trường hợp kinh doanh bất động sản đã được quy định tại điểm b khoản này;

– Các hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch đó là các tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản thì sẽ được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;

Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ bị vô hiệu nếu như không đáp ứng một trong các điều kiện được nêu rõ theo Khoản 1 Điều 117 của Bộ luật dân sự 2015 hoặc không được công chứng, chứng thực theo quy định tại Khoản 3 của Điều 167 Luật đất đai 2013 vừa mới nêu trên, trừ trường hợp được quy định tại Khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự 2015.

dieu-129-bo-luat-dan-su-2015-3

>>>Luật sư giải đáp miễn phí các quy định pháp luật về việc mua đất bằng giấy viết tay. Gọi ngay 1900.6174

Những hạn chế bất cập của Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015

 

Ngoài những mặt tích cực vừa nêu trên thì điều luật này vẫn còn tồn tại một số hạn chế, như sau:

– Thứ nhất, Điều 129 này không quy định cụ thể về những loại hợp đồng nào cần phải tuân thủ điều kiện mặt hình thức. Điều này chỉ quy định về hình thức bắt buộc của một số loại hợp đồng như là: Hợp đồng mua bán, hợp đồng tặng cho nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, và có công chứng, chứng thực đúng theo quy định…

Câu hỏi đặt ra là đối với trường hợp hợp đồng không có đầy đủ các nội dung bắt buộc thì có thể xem đã vi phạm điều kiện về hình thức của hợp đồng hay không?

– Thứ hai là, Điều 129 BLDS 2015 có hai khoản nhưng ranh giới giữa hai điều khoản này rất khó để có thể xác định trên thực tiễn. Cụ thể thì tại khoản 1 Điều 129 của BLDS 2015  đề cập các hợp đồng đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật.

Đồng thời, tại khoản 2 Điều 129 của BLDS 2015 thì lại đề cập đến các hợp đồng đã được xác lập bằng văn bản nhưng lại vi phạm quy định bắt buộc về việc công chứng, chứng thực. Hai khoản này khác nhau ở điểm nào thì rất khó để có câu trả lời, bởi tại khoản 2 Điều 119 của BLDS quy định về hình thức của hợp đồng chỉ ghi nhận hai hình thức phải tuân thủ là văn bản có công chứng, chứng thực.

Thứ ba là, theo như quy định tại Điều 129, hợp đồng vi phạm điều kiện về mặt hình thức nhưng “một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch”. Theo đó thì thực tiễn áp dụng hợp đồng này cho thấy, có rất nhiều dạng nghĩa vụ như: nghĩa vụ tài sản, phi tài sản … 

Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần phải làm rõ việc xác định nghĩa vụ chỉ là nghĩa vụ tài sản hay phải bao gồm tất cả các nghĩa vụ mà hai bên thỏa thuận trong hợp đồng? Khi trong hợp đồng vừa có nghĩa vụ tài sản vừa có cả nghĩa vụ phi tài sản; một bên phải thực hiện nghĩa vụ tài sản vừa phải thực hiện nghĩa vụ phi tài sản (như thực hiện thủ tục sang tên…) hay là các bên đều chỉ có nghĩa vụ phi tài sản thì dựa vào tiêu chí nào để được coi là đã thực hiện được ít nhất 2/3 nghĩa vụ?.

>>>Luật sư giải đáp miễn phí về những hạn chế bất cập của Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015. Gọi ngay 1900.6174

Những kiến nghị về áp dụng Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015

 

Việc quy định hình thức là một điều kiện bắt buộc trong một số các loại hợp đồng là không hợp lý lắm. Bởi lẽ, hình thức hợp đồng thực chất nó chỉ là sự thể hiện ý chí của các bên tham gia hợp đồng theo các ký tự bằng mực đen và giấy trắng; trong khi đó việc công chứng nhà nước chứng nhận hay chứng thực, đăng ký hay sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực chất là thể hiện xác nhận sự kiện pháp lý giữa các bên.

Khi có các tranh chấp xảy ra, Tòa án sẽ là cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có sự kiện này. Pháp luật quy định vi phạm hình thức dẫn tới hợp đồng vô hiệu thì sẽ tạo nên khoảng cách nhất định giữa sự thống nhất ý chí thực với hiệu lực của các hợp đồng.

Mặt khác, có thể thấy rằng trong thực tiễn giải quyết tại các Tòa án, pháp luật quy định một số loại hợp đồng phải tuân thủ các quy định về mặt hình thức, nếu các chủ thể tham gia không tuân thủ điều kiện hình thức sẽ dẫn tới hợp đồng vô hiệu không phù hợp tình hình thực tế hiện nay.

dieu-129-bo-luat-dan-su-2015-2

>>>Xem thêm: Bộ luật dân sự năm 2015

Hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng đất vô hiệu về hình thức

 

Nếu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà bị tuyên bố vô hiệu thì việc giải quyết sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 131 của Bộ luật dân sự 2015, cụ thể như sau:

– Giao dịch dân sự vô hiệu thì sẽ  không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch đó được xác lập.

– Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên sẽ tiến hành khôi phục lại tình trạng như ban đầu, hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận được. Trường hợp không thể hoàn trả  bằng hiện vật thì có thể trị giá thành tiền để hoàn trả cho nhau.

– Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức thì không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

– Bên có lỗi gây ra thiệt hại thì phải thực hiện việc bồi thường.

– Việc giải quyết các hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật dân sự hiện hành và các luật khác có liên quan quy định.

>>>Xem thêm: Đơn yêu cầu thi hành án dân sự năm 2023 gồm những nội dung gì?

Tóm lại, Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ về hình thức trong Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 vẫn còn đang là một vấn đề gây ra nhiều tranh cãi và được mọi người quan tâm. Bên cạnh những điểm mới của Điều luật này so với Bộ luật cũ thì vẫn còn tồn tại một vài hạn chế. Vì vậy, nếu như có bất kỳ thắc mắc nào khác còn vướng bận về vấn đề trên các bạn có thể liên hệ ngay Tổng Đài Pháp Luật để được giải đáp và hỗ trợ tận tình thông qua số hotline sau đây 1900.6174. 

 

Liên hệ chúng tôi

Dịch vụ luật sư ⭐️ Chuyên nghiệp: Dành cho cá nhân – gia đình – doanh nghiệp
Dịch vụ xử lý nợ xấu, nợ khó đòi ⭐️ Đúng pháp luật – Uy tín
Dịch vụ ly hôn ⭐️ Nhanh – Trọn gói – Giải quyết trong ngày
Dịch vụ Luật sư riêng ⭐️ Uy tín: Dành cho cá nhân – gia đình – doanh nghiệp
Dịch vụ Luật sư Hình sự ⭐️ Nhanh chóng – Hiệu quả
Dịch vụ Luật sư tranh tụng ⭐️ Giỏi – Uy tín – Nhận toàn bộ vụ việc
Dịch vụ Luật sư doanh nghiệp ⭐️ Tư vấn thường xuyên cho doanh nghiệp

 

  19006174