Thời hiệu khởi kiện bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật

Thời hiệu khởi kiện bồi thường thiệt hại một vấn đề quan trọng trong lĩnh vực pháp luật. Trong cuộc sống và công việc, chúng ta không thể tránh khỏi những tình huống xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp pháp lý mà đòi hỏi sự đền bù thiệt hại. Tuy nhiên, một trong những thách thức mà chúng ta thường gặp phải là việc xác định thời hiệu khởi kiện và bồi thường thiệt hại trong trường hợp này.

Để hiểu rõ hơn về vấn đề này hãy để đội ngũ luật sư của Tổng Đài Pháp Luật sẽ giải thích cho bạn qua thông tin dưới đây. Trường hợp có nhu cầu cần được các Luật sư tư vấn khẩn cấp, hãy nhấc máy gọi đến đường dây nóng 1900.6174 để được hỗ trợ nhanh chóng nhất!

>>>Luật sư giải đáp miễn phí các quy định pháp luật liên quan đến thời hiệu khởi kiện bồi thường thiệt hại. Gọi ngay: 1900.6174

Tình huống:

Anh Trung tại Tiền Giang đã gửi đến câu hỏi như sau:

Chào quý luật sư, tôi gặp vấn đề trong việc nhận bồi thường mong được quý luật sư giúp đỡ. Tôi muốn hỏi thời hiệu khởi kiện bồi thường thiệt hại? Nguyên tắc bồi thường thiệt hại? Người chưa đủ mười lăm gây thiệt hại thì ai phải bồi thường? Mong nhận được sự phản hồi sớm từ quý luật sư.

Trả lời:

Chào anh, trước tiên thay mặt đội ngũ luật sư của chúng tôi, tôi xin chân thành cảm ơn vì được anh lựa chọn tin tưởng. Để giải đáp vấn đề này, chúng tôi gửi câu trả lời qua các thông tin sau: 

Thời hiệu khởi kiện bồi thường thiệt hại

 

Thời hiệu khởi kiện bồi thường thiệt hại là một vấn đề quan trọng trong lĩnh vực pháp luật. Theo quy định chung trong Bộ luật Dân sự, thời hiệu này là hai năm, tính từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, hoặc chủ thể khác bị xâm phạm. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng có một số trường hợp đặc biệt đối với việc xác định thời hiệu khởi kiện trong trường hợp xảy ra thiệt hại trước ngày có hiệu lực của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đối với các trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh kể từ ngày 01-01-2005, thời hiệu khởi kiện bồi thường thiệt hại là hai năm, tính từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, hoặc chủ thể khác bị xâm phạm. Trong trường hợp bồi thường thiệt hại phát sinh trước ngày 01-01-2005, thời hiệu khởi kiện cũng là hai năm, tính từ ngày 01-01-2005.

Ngoài ra, khi có sự oan sai do hoạt động tố tụng gây ra, áp dụng quy định cụ thể của Nghị quyết số 388. Các quy định về thời hiệu khởi kiện cũng có sự khác biệt trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Bộ luật Dân sự năm 2015 so với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 đã được sửa đổi và bổ sung. Ví dụ, theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu theo yêu cầu của các bên trước khi ra bản án hoặc quyết định giải quyết vụ việc tại cấp sơ thẩm. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu cũng có quyền từ chối áp dụng, trừ trường hợp việc từ chối này nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ.

Với những sự khác biệt này, việc áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại đã được quy định rõ ràng trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Bộ luật Dân sự năm 2015.

thoi-hieu-khoi-kien-boi-thuong-thiet-hai-5

>>>Luật sư giải đáp miễn phí về thời hiệu khởi kiện bồi thường thiệt hại. Gọi ngay: 1900.6174

Hướng dẫn xác định thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại

 

Theo quy định trong Nghị quyết 02/2022/NQ-TW, để xác định thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Điều 588 của Bộ luật Dân sự, ta có các quy tắc sau:

– Trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh trước hoặc sau ngày 01/01/2017, và đương sự khởi kiện từ ngày 01/01/2017, thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại đều là 03 năm, tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

– Thời điểm người có quyền yêu cầu biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm là khi họ nhận ra hoặc có thể khẳng định được rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình đã bị xâm phạm.

Trường hợp người có quyền yêu cầu phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm được xác định trong điều kiện và hoàn cảnh bình thường, tức khi có thiệt hại xảy ra, người đó đã nhận biết rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình đã bị xâm phạm, hoặc pháp luật có quy định đối với trường hợp này.

>>>Luật sư hướng dẫn miễn phí cách xác định thời hiệu khởi kiện bồi thường thiệt hại. Gọi ngay: 1900.6174

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

 

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại được căn cứ vào những điều khoản sau đây:

Người vi phạm hợp đồng có trách nhiệm bồi thường khi gây thiệt hại về tài sản và tinh thần của bên bị thiệt hại nhằm khôi phục lại tình trạng tài sản và bù đắp tổn thất tinh thần. Điều này được quy định trong Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

“Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Để có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại, cần đáp ứng các điều kiện sau đây theo Điều 303 Luật Thương mại năm 2005:

“Điều 303. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:

– Có hành vi vi phạm hợp đồng.

– Có thiệt hại thực tế.

– Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.”

Điều kiện thứ nhất là có hành vi vi phạm hợp đồng, tức là một bên không tuân thủ cam kết hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng. Điều này cũng được quy định tại Điều 360 Bộ luật dân sự năm 2015.

Điều kiện thứ hai là có thiệt hại thực tế, bao gồm cả tổn thất về tài sản và khoản lợi nhuận bị bỏ lỡ do vi phạm hợp đồng.

Điều kiện thứ ba là hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại, tức là có mối quan hệ nhân quả giữa việc vi phạm hợp đồng và thiệt hại thực tế.

Do đó, để áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại, cần đáp ứng đủ cả ba điều kiện trên.

thoi-hieu-khoi-kien-boi-thuong-thiet-hai-3

>>>Luật sư giải đáp miễn phí về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Gọi ngay: 1900.6174

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

 

Căn cứ vào quy định tại Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015, nguyên tắc bồi thường thiệt hại được diễn đạt như sau:

– Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và đúng thời hạn. Các bên có thể thỏa thuận về mức độ bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, hiện vật, hoặc thực hiện một công việc, cũng như có thể áp dụng hình thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần. Tuy nhiên, điều này không áp dụng nếu có quy định khác của pháp luật.

– Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức đền bù nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý, và thiệt hại vượt quá khả năng tài chính của họ.

– Khi mức đền bù không còn phù hợp với tình hình thực tế, bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay đổi mức đền bù.

– Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại, họ sẽ không được đền bù phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

– Nếu bên bị xâm phạm quyền và lợi ích không áp dụng các biện pháp cần thiết và hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình, thì họ sẽ không được đền bù cho thiệt hại đó.

Với những nguyên tắc bồi thường thiệt hại nêu trên, quyền và lợi ích của các bên trong hợp đồng thương mại sẽ được bảo vệ và được giải quyết một cách công bằng và hợp lý.

>>>Luật sư giải đáp miễn phí về nguyên tắc bồi thường thiệt hại. Gọi ngay: 1900.6174

Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại thì ai phải bồi thường?

 

Hiện nay, theo quy định của pháp luật hiện hành, người chưa thành niên được định nghĩa là người chưa đủ mười tám tuổi và không có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, giao dịch của người chưa thành niên phải được thực hiện thông qua người đại diện, người giám hộ để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho chủ thể này. Trong trường hợp người chưa thành niên có hành vi gây thiệt hại cho người khác, pháp luật cũng quy định cụ thể để đảm bảo quyền lợi cho chủ thể bị thiệt hại.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự năm 2015, luật khác có liên quan quy định khác. Tuy nhiên, người chưa thành niên là chủ thể đặc biệt, do đó Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định riêng đối với chủ thể này tại Điều 586.

Đối với chủ thể từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi, nếu họ gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. Trong trường hợp chủ thể này không có cha, mẹ hoặc không xác định được cha mẹ, người giám hộ sẽ thực hiện bồi thường bằng tài sản của người được giám hộ; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường, người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình. Nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ, thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

Ngoài ra, pháp luật cũng quy định một trường hợp khác về bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý tại Điều 599 Bộ luật dân sự năm 2015. Cụ thể, trường học phải bồi thường thiệt hại nếu người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý gây thiệt hại. Trường học sẽ không phải bồi thường nếu chứng minh được không có lỗi trong quản lý. Trong trường hợp này, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi sẽ chịu trách nhiệm bồi thường.

thoi-hieu-khoi-kien-boi-thuong-thiet-hai-2

Dựa trên những quy định trên, có thể thấy pháp luật chia thành hai trường hợp đối với người chưa thành niên, bao gồm chủ thể từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi và chủ thể chưa đủ 15 tuổi:

– Nguyên tắc bồi thường đối với chủ thể từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi là phải bồi thường bằng tài sản của chủ thể này; nếu không đủ tài sản để bồi thường, cha, mẹ sẽ bồi thường cho phần còn thiếu bằng tài sản của họ.

– Đối với chủ thể chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại nhưng còn cha mẹ, thì cha mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. Nếu tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường, và con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng, thì tài sản đó sẽ được sử dụng để bồi thường phần thiếu.

Trong trường hợp chủ thể này không có cha mẹ hoặc không xác định được cha mẹ, người giám hộ sẽ thực hiện bồi thường bằng tài sản của người được giám hộ; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường, người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình. Nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ, thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

Đối với người chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại trong trường học, việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về nhà trường hoặc cha, mẹ, người giám hộ của người chưa đủ 15 tuổi, tùy vào yếu tố lỗi. Nếu nhà trường có lỗi, thì nhà trường sẽ chịu trách nhiệm bồi thường; trong trường hợp không có lỗi, thì cha, mẹ, người giám hộ của người chưa đủ 15 tuổi sẽ chịu trách nhiệm bồi thường.

Tổng kết lại, theo quy định của pháp luật hiện hành, việc bồi thường thiệt hại đối với người chưa thành niên có các quy định cụ thể để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể liên quan. Các quy định này phân biệt theo độ tuổi và có sự tham gia của người đại diện, người giám hộ trong việc thực hiện bồi thường.

>>>Luật sư giải đáp miễn phí về việc bồi thường thiệt hại của người chưa đủ 15 tuổi. Gọi ngay: 1900.6174

Kết hợp trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với các loại trách nhiệm khác

 

Bảo hiểm tài sản là một hình thức bảo hiểm được áp dụng khi chủ sở hữu tài sản mua bảo hiểm cho tài sản của mình. Trong trường hợp xảy ra sự kiện được bảo hiểm mà đã được quy định trong hợp đồng bảo hiểm, công ty bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm chi trả tiền bồi thường trước khi đáp ứng đủ các điều kiện. Sau khi công ty bảo hiểm đã chi trả, họ có quyền kiện bên gây thiệt hại để yêu cầu việc bồi thường được thực hiện.

Tương tự như bảo hiểm tài sản, bảo hiểm tính mạng cũng hoạt động theo cơ chế tương tự. Khi một người có bảo hiểm tính mạng gặp sự cố mà đã được bảo hiểm trong hợp đồng, công ty bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại hoặc cho người gây thiệt hại (nếu người này đã bồi thường).

Bảo hiểm TNDS (Trách nhiệm dân sự) của chủ xe cơ giới cũng là một trường hợp đặc biệt. Nếu chủ xe đã mua bảo hiểm TNDS cho xe của mình, khi chủ xe gây thiệt hại, cơ quan bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm chi trả cho người bị thiệt hại hoặc cho người gây thiệt hại (nếu người này đã bồi thường).

Ngoài ra, bảo hiểm xã hội cũng là một loại bảo hiểm quan trọng. Bảo hiểm xã hội bảo đảm các quyền lợi và bảo vệ cho người tham gia hệ thống bảo hiểm xã hội trong trường hợp họ gặp khó khăn, như mất việc làm, bị ốm đau hoặc hư hỏng sức khỏe. Hệ thống bảo hiểm xã hội thường được quản lý bởi cơ quan nhà nước và sử dụng quỹ bảo hiểm để chi trả các khoản tiền bồi thường cho người tham gia.

thoi-hieu-khoi-kien-boi-thuong-thiet-hai-1

>>Xem thêm: Xây nhà làm nứt nhà bên cạnh có phải bồi thường không?

Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

 

Hiện tại, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao (TANDC) đang thảo luận về Nghị quyết lần 2 về việc áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Nghị quyết này dự kiến thay thế Nghị quyết số 03/2006/NQ – HĐTP ngày 8/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh (TANDTC), được gọi tắt là Nghị quyết 03, về việc áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Tuy nhiên, dự thảo của Nghị quyết lần 2 không đưa ra khái niệm về “nguồn nguy hiểm cao độ”, mà chỉ liệt kê các đối tượng được coi là “nguồn nguy hiểm cao độ” theo khoản 1 Điều 601 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Theo dự thảo, điểm c khoản 2 Điều 13 quy định rằng người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, ngay cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp như sau: khi thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại. Ví dụ, trong trường hợp một chiếc xe ô tô đang tuân thủ quy định luật giao thông bị một người lao vào xe để tự tử… trong những tình huống bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp có quy định khác trong pháp luật.

Tuy nhiên, dự thảo Nghị quyết không đề cập đến trường hợp khi người bị thiệt hại có lỗi gây thiệt hại cho người thứ ba, như trường hợp khi người lao vào xe để tự tử… Do đó, vấn đề về người phải chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi dẫn đến người thứ ba bị thiệt hại do lỗi của người bị thiệt hại gây ra vẫn chưa được Nghị quyết đề cập, và trong thực tế, nhận thức về tình huống này vẫn khác nhau.

Từ quan điểm của Bộ luật Dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra đều là loại trách nhiệm dân sự. Theo đó, người có trách nhiệm bồi thường phải đền bù những tổn thất gây ra cho người khác mà không có quan hệ hợp đồng hoặc hành vi gây thiệt hại không thuộc phạm vi thực hiện hợp đồng.

>>>Xem thêm: Bồi thường thiệt hại là gì? Nguyên tắc bồi thường thiệt hại 2023

Trong bối cảnh pháp luật đang ngày càng phát triển, việc nắm rõ và hiểu đúng về thời hiệu khởi kiện bồi thường thiệt hại là rất quan trọng. Từ việc đúc kết kinh nghiệm từ tình huống trên, chúng ta đã nhận thấy tầm quan trọng của việc tuân thủ quy định về thời hiệu khởi kiện và bồi thường thiệt hại, cũng như sự linh hoạt và công bằng của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp pháp lý.

Chính vì vậy, hãy luôn cập nhật và áp dụng đúng quy định của pháp luật để bảo vệ quyền lợi của mình và đảm bảo công bằng trong xã hội.  Mọi thắc mắc liên quan đến thông tin trong bài viết, quý bạn đọc có thể liên hệ qua tổng đài 1900.6174 để được đội ngũ Luật sư của Tổng Đài Pháp Luật giải đáp nhanh chóng nhất!

 

Liên hệ chúng tôi

Dịch vụ luật sư ⭐️ Chuyên nghiệp: Dành cho cá nhân – gia đình – doanh nghiệp
Dịch vụ xử lý nợ xấu, nợ khó đòi ⭐️ Đúng pháp luật – Uy tín
Dịch vụ ly hôn ⭐️ Nhanh – Trọn gói – Giải quyết trong ngày
Dịch vụ Luật sư riêng ⭐️ Uy tín: Dành cho cá nhân – gia đình – doanh nghiệp
Dịch vụ Luật sư Hình sự ⭐️ Nhanh chóng – Hiệu quả
Dịch vụ Luật sư tranh tụng ⭐️ Giỏi – Uy tín – Nhận toàn bộ vụ việc
Dịch vụ Luật sư doanh nghiệp ⭐️ Tư vấn thường xuyên cho doanh nghiệp
  19006174