time

Giờ làm việc

T2 - CN 7:00 - 22:30

map

Văn Phòng Chính

Tầng 6, An Phát Building, khu đô thị mới Cầu Giấy, Hà Nội

phone

Tư vấn pháp luật miễn phí

Gọi ngay: 1900633705

Khởi tố vụ án hình sự như thế nào theo quy định mới nhất 2022?

Khởi tố vụ án hình sự như thế nào theo quy định năm 2022? Nội dung của quyết định khởi tố vụ án hình sự là gì? Căn cứ để xác định khởi tố là gì? Tất cả những vấn đề này sẽ được Tổng đài pháp luật giải đáp trong bài viết dưới đây. Trong trường hợp có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến các vấn đề khởi tối hình sự hãy gọi ngay cho chúng tôi qua hotline 1900.633.705 để nhận được sự tư vấn từ các luật sư giàu kinh nghiệm. 

>> Tư vấn thủ tục khởi tố vụ án hình sự nhanh chóng nhất, gọi ngay 1900.633.705

khoi-to-vu-an-hinh-su

Khởi tố vụ án hình sự là gì?

 

Khởi tố trong lĩnh vực hình sự là giai đoạn đầu tiên trong tố tụng hình sự, theo đó cơ quan có thẩm quyền trong tư pháp hình sự sẽ tiến hành việc xác định có hay không việc phạm tội, các dấu hiệu của tội phạm trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm theo quy định của luật hình sự gây ra cho xã hội. Đồng thời cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực này cũng sẽ ban hành quyết định về việc có khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự mà trong đó có liên quan tới hành vi này.

Khởi tố hay khởi tố hình sự là giai đoạn tố tụng vô cùng đặc biệt và độc lập, nó mở đầu cho các hoạt động điều tra sau đó nên giai đoạn này có chức năng chính là thực hiện nhiệm vụ, công việc cụ thể để xác định các tiền đề theo khía cạnh pháp luật về nội dung và pháp luật về hình thức thể hiện đối với việc điều tra vụ án hình sự.

Khởi tố vụ án được xác định bắt đầu từ thời điểm nhận được những thông tin đầu tiên về việc có hành vi phạm tội và kết thúc giai đoạn này bằng quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc có khởi tố hay có căn cứ để không khởi tố vụ án hình sự có liên quan tới hành vi đó.

Đây là giai đoạn không thể thiếu trong một vụ án hình sự, nó cũng được coi là một trong các giai đoạn của tố tụng hình sự cơ bản và quan trọng để tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do chính đáng của công dân, trước khi quyết định khởi tố bị can và thực hiện việc áp dụng các biện pháp nghiệp vụ quan trọng trong giai đoạn tiếp theo đó là giai đoạn điều tra.

Khởi tố hình sự cùng với đó là các giai đoạn tiếp theo trong tố tụng hình sự việc này sẽ góp phần hiệu quả trong công tác thực hiện đấu tranh phòng, chống tội phạm trong xã hội.

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam, cụ thể là theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự gồm 5 giai đoạn: Khởi tố vụ án, điều tra, truy tố, xét xử vụ án và thi hành bản án, quyết định của Tòa án đối với vụ án đó đã có hiệu lực pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự thì khởi tố vụ án hình sự chính là cánh cửa, giai đoạn mở đầu quá trình tố tụng hình sự. Giai đoạn này được bắt đầu kể từ thời điểm mà cơ quan có thẩm quyền:

+ Tiếp nhận được nguồn tin về tội phạm,

+ Tiếp nhận tin tố giác của công dân;

+ Tin báo về hành vi của cơ quan tổ chức;

+ Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, hay kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

+ Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã trực tiếp phát hiện ra được dấu hiệu phạm tội;

+ Người phạm tội tự thú và kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự mà quyết định này không bị hủy bỏ theo quy định của pháp luật.

Quyết định khởi tố vụ án hình sự là văn bản pháp lý kết thúc giai đoạn khởi tố vụ án, bắt đầu giai đoạn thứ hai là điều tra vụ án hình sự, nói cách khác quyết định khởi tố vụ án hình sự là cơ sở pháp lý để có thể tiến hành bước thứ hai là bước điều tra. Trong khi quyết định không khởi tố vụ án hình sự là căn cứ quan trọng để kết thúc, chấm dứt mọi hoạt động tố tụng, đình chỉ giải quyết vụ việc.

Trong quá trình thực hiện khởi tố vụ án hình sự, bạn còn có những băn khoăn hay thắc mắc hãy gọi ngay cho chúng tôi qua hotline 1900.633.705 để được luật sư tranh tụng tư vấn nhanh chóng.

Quy định chung về khởi tố vụ án hình sự

 

Khởi tố vụ án hình sự từ xưa đến nay được quy định thống nhất thì đây là một giai đoạn tố tụng độc lập, là giai đoạn quyết định có hay không hành vi phạm tội và mở đầu các hoạt động điều tra sau đó. Trong giai đoạn khởi tố, cơ quan có thẩm quyền khởi tố sẽ bắt đầu tiến hành các hoạt động liên quan để xác định dấu hiệu của tội phạm. Khởi tố vụ án hình sự đã được ghi nhận trong các quy phạm pháp luật về tố tụng hình sự từ năm 1960 và đến nay ngày càng được hoàn thiện, phát triển.

Hiện nay, theo quy định hiện hành của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017 đã đưa giai đoạn khởi tố vụ án hình sự thành một chương trong Bộ luật này cụ thể là tại chương IX gồm 19 điều từ Điều 143 đến điều 162, quy định cụ thể từng nội dung khởi tố, căn cứ, thẩm quyền, quyết định khởi tố, tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố…

Đặc biệt trong quyết định khởi tố vụ án phải ghi rõ thời gian, căn cứ khởi tố và điều khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng.

+ Quyết định khởi tố vụ án hình sự sẽ không cần thiết phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhưng trong thời hạn 24 giờ,

+ Quyết định khởi tố của vụ án hình sự đó của cơ quan điều tra, đơn vị bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan và cơ quan Kiểm lâm có liên quan phải được gửi đến Viện kiểm sát để kiểm sát việc khởi tố này;

+ Quyết định khởi tố của Toà án sẽ phải được gửi đến Viện kiểm sát để xem xét, quyết định việc điều tra;

+ Quyết định khởi tố của Viện kiểm sát được gửi đến Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.

>> Xem thêm: Thủ tục tố cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định 2022

Nội dung của quyết định khởi tố vụ án hình sự

 

Quyết định khởi tố vụ án hình sự là một trong những văn bản tố tụng quan trọng để xác định một hành vi, nguồn tin tố giác,… có phải là hành vi phạm tội được xác định là tội phạm hay không để có căn cứ có quyết định khởi tố vụ án hình sự đó hay ra quyết định không khởi tố.

Theo quy định tại Điều 154 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi 2017 về quyết định khởi tố vụ án hình sự:

1. Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải ghi rõ căn cứ khởi tố, điều, khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.

2. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát phải gửi quyết định đó đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiến hành điều tra.

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát việc khởi tố.

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Tòa án phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp.

Theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này về văn bản tố tụng cũng quy định:

Văn bản tố tụng bao gồm có lệnh, quyết định, yêu cầu, kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản án của vụ án và các văn bản tố tụng khác có liên quan trong hoạt động tố tụng được lập theo một mẫu thống nhất.

Trong văn bản tố tụng có quyết định khởi tố vụ án hình sự và phải ghi rõ các nội dung như sau:

1. Số, ngày, tháng, năm, địa điểm ban hành văn bản tố tụng;

2. Các căn cứ để ban hành văn bản tố tụng;

3. Nội dung của văn bản tố tụng;

4. Họ tên, chức vụ, chữ ký của người ban hành văn bản tố tụng và đóng dấu.

Như vậy, quyết định khởi tố là một văn bản pháp lý quan trọng để xác định được rằng một hành vi nào đó có phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự hay không, nếu có thì quyết định khởi tố chính là kết quả của việc khởi tố và đưa vụ án hình sự đó đi vào một giai đoạn mới đó là giai đoạn điều tra. Còn đối với trường hợp nếu xét thấy không cần thiết phải khởi tố hành vi đó, hành vi đó chưa đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật hình sự để coi là tội phạm thì sẽ ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự đó.

>>Xem thêm: Luật sư tư vấn luật hình sự qua điện thoại và email miễn phí

Căn cứ khởi tố vụ án hình sự

 

Anh Vinh (Bắc Giang) có câu hỏi:

Chào Luật sư, Tôi có một thắc mắc muốn nhờ Luật sư giải đáp liên quan đến việc khởi tố vụ án hình sự. Nhà vợ tôi có một đứa cháu 17 tuổi và hiện đang học cấp 3. Mấy ngày trước, do có một vài xích mích với một người bạn cùng trường nên khi đang trên đường đi học về với hai người bạn gần nhà thì cháu tôi bị chặn đánh và có xô xát với nhau. Sau cuộc cọ xát cả hai bên đã được đưa về phường.

Vậy, Luật sư cho tôi hỏi cháu tôi có bị khởi tố hình sự hay không? Quy định của pháp luật về căn cứ khởi tố vụ án hình sự như thế nào? Xin cảm ơn Luật sư!

 

>> Căn cứ khởi tố vụ án hình sự theo quy định mới nhất, gọi ngay 1900.633.705

Trả lời:

Xin chào anh Hoàng! Cảm ơn anh Hoàng đã đặt câu hỏi cho chúng tôi. Đối với vấn đề mà anh đang thắc mắc thì Tổng đài pháp luật xin được tư vấn, giải đáp như sau:

Để có căn cứ khởi tố vụ án hình sự thì trước tiên phải có tin tố giác của người tố giác, báo tin về tội phạm. Sau đó cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tố giác sẽ tiến hành điều tra chính xác tin báo, tố giác đó, nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì mới tiến hành khởi tố vụ án.

Việc xác định căn cứ khởi tố hình sự nhằm mục đích hạn chế tối đa những khả năng vi phạm các quyền cơ bản của công dân đồng thời đây là căn cứ xác định mốc thời điểm mà các quan hệ tố tụng được khởi phát, đây chính là cơ sở phát sinh cho việc thực hiện các quy định pháp luật tố tụng hình sự khác có liên quan đến sự kiện pháp lý phải điều chỉnh.

Theo quy định tại Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về căn cứ khởi tố vụ án hình sự:

“Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

1. Tố giác của cá nhân;

2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

6. Người phạm tội tự thú”.

Thứ nhất, tin báo tố giác về tội phạm chính là việc một cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi mà mình cho rằng hành vi đó có dấu hiệu tội phạm theo quy định trong Bộ luật hình sự với cơ quan có thẩm quyền.

Tố giác của cá nhân có thể được thực hiện trực tiếp hay gián tiếp thông qua đường điện thoại, thư tín… và cũng có thể được thể hiện bằng lời hoặc bằng văn bản tố giác. Mọi người đều có quyền tố giác về tội phạm với cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện hành vi mà mình cho rằng đó là hành vi phạm tội.

Thứ hai, tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân là những thông tin quan trọng liên quan về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện và thông báo với cơ quan có thẩm quyền. Khi nhận được thông tin về hành vi nghi là phạm tội thì cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành xác minh thông tin, tin báo về hành vi đó.

Nếu qua xác minh thấy được vụ việc được cung cấp thông tin có dấu hiệu của một loại tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự thì cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Thứ ba, phương tiện thông tin đại chúng là phương tiện thông tin mà ở đó có đối tượng tác động là đông đảo người dân trên cả nước.

Khi có được thông tin về tội phạm do các phương tiện thông tin đại chúng đưa lên, thì các cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành kiểm tra, xác minh để kết luận thông tin mà các phương tiện thông tin đại chúng đó đưa ra có dấu hiệu tội phạm hay không, làm căn cứ khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự.

Thứ tư, kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyết xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.

Cùng với các nguồn tin khác, kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước là nguồn tin để cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự.

Thứ năm, trường hợp Cơ quan điều tra, Cơ quan mà đã được giao nhiệm vụ để tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện ra có dấu hiệu tội phạm thông qua quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình và dùng đó làm căn cứ khởi tố vụ án hình sự.

Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện sự việc nào đó có dấu hiệu của tội phạm nhưng chưa được khởi tố.

Thứ sáu, tự thú là việc người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện. Người phạm tội tự thú là người đã thực hiện hành vi phạm tội và họ tự mình ra thú nhận hành vi phạm tội của họ trước các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện. Đây là cơ sở để đánh giá có thể có sự việc phạm tội xảy ra và khả năng người tự thú là người thực hiện hành vi phạm tội.

Do vậy, từ chính lời khai của người phạm tội tự thú cũng là cơ sở rất quan trọng để cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng dùng làm căn cứ để khởi tố vụ án hình sự.

Thứ bảy, khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại. Căn cứ theo điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đối với việc khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì các tội phạm ít nghiêm trọng thuộc khoản 1 của các tội ở các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự 2015, cơ quan có thẩm quyền khởi tố chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

Tuy nhiên, khi người yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án theo đó cũng phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ cụ thể xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức.

Đối với trường hợp này, cháu anh sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội gây rối trật tự công cộng do cháu anh chưa đủ 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng. Tuy nhiên, căn cứ vào mức độ vi phạm thì hành vi này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về các căn cứ để khởi tố vụ án. Trong trường hợp anh còn có những thắc mắc về thủ tục khởi tố vụ án hình sự, hãy gọi ngay cho chúng tôi qua hotline 1900.633.705 để nhận được sự hỗ trợ từ các luật sư giàu kinh nghiệm.

>> Xem thêm: Luật sư hình sự – Tư vấn pháp luật và giải quyết tranh chấp tố tụng

Căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự

 

Anh Tình (Thanh Hóa) có câu hỏi:

Chào Luật sư, tôi có một thắc mắc muốn nhờ Luật sư giải đáp liên quan đến việc khởi tố vụ án hình sự. Ở khu vực tôi sinh sống gần đây thường có rất nhiều gia đình bị mất đồ đạc và các vật nuôi như gà, vịt. Mọi người trong làng đều nghi ngờ do một đám thanh niên trong làng làm. Chúng tôi quyết định làm đơn tố giác về hành vi trộm cắp tài sản của nhóm thanh niên này với cơ quan công an.

Tuy nhiên, cơ quan công an có ra quyết không khởi tố vụ án hình sự. Vậy Luật sư cho tôi hỏi tại sao hành vi của nhóm thanh niên đó không được khởi tố? Tôi cảm ơn!

 

>> Quy định mới nhất về việc không được khởi tố vụ án hình sự, gọi ngay 1900.633.705

Trả lời:

Thưa anh Tình, cảm ơn anh đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho Tổng đài pháp luật. Về vấn đề của anh, chúng tôi xin giải quyết như sau:

Theo quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự:

Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:

1. Không có sự việc phạm tội;

2. Hành vi không cấu thành tội phạm;

3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

6. Tội phạm đã được đại xá;

7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;

8. Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.

Thứ nhất, không có sự việc phạm tội là sự việc mà cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận thông tin và có căn cứ để xác định hành vi đó không thỏa mãn các dấu hiệu tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015. Do đó không có căn cứ để xác định hành vi phạm tội và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Thứ hai, hành vi được coi là không cấu thành tội phạm. Cấu thành tội phạm nghĩa là sự tổng hợp các dấu hiệu pháp lý đặc trưng cho một tội phạm cụ thể nhất định và đó là cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

Hành vi không cấu thành tội phạm được giải nghĩa là việc đã có hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra trên thực tế, nhưng hành vi đó không có đủ những dấu hiệu để cấu thành một loại tội phạm cụ thể theo quy định trong Bộ luật Hình sự 2015.

Về hình thức thì có thể có những hành vi này cũng có một số dấu hiệu giống như tội phạm, hay thậm chí còn có một số dấu hiệu mà dấu hiệu đó đã được quy định trong cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự, nhưng không đầy đủ. Để được xác định là tội phạm, hành vi được xem xét phải có đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành một tội phạm.

Thứ ba, người có hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự, tuổi chịu trách nhiệm hình sự là căn cứ quan trọng để khởi tố hình sự và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đó.

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là yếu tố phụ thuộc vào điều kiện khách quan, chủ quan của người thực hiện hành vi; điều kiện kinh tế, xã hội, truyền thống pháp luật quốc gia; được quy định trong luật hình sự và khẳng định trên cơ sở giấy khai sinh, sổ đăng ký khai sinh và các bằng chứng xác thực khác.

Thứ tư, hành vi phạm tội của người đó đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án đã có hiệu lực pháp luật. Hành vi phạm tội của một người sau khi có bản án có hiệu lực của Toà án, khi hành vi của một người đã được Toà án nhân danh Nhà nước phán quyết và bản án đó đã có hiệu lực về mặt pháp luật, thì cũng có nghĩa là công lý về vấn đề và sự kiện pháp lý làm phát sinh các quan hệ tố tụng hình sự ban đầu đã được xác lập.

Đó là căn cứ để không khởi tố vụ án hình sự. Như vậy, tội phạm mà họ thực hiện đã được đem ra xét xử rồi, có bản án rồi thì không thể khởi tố để xét xử lần thứ hai.

Thứ năm, đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, là thời hạn mà theo quy định về việc truy cứu trách nhiệm hình sự với những hành vi phạm tội của người đó còn hiệu lực áp dụng. Điểm này hoàn toàn phù hợp và nhằm thực hiện quy định tại Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015 về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo quy định thì những người có hành vi phạm tội đã qua thời hạn nhất định nếu không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà không phải do người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã thì sẽ không thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thứ sáu, tội phạm thuộc trường hợp đã được đại xá. Đại xá được hiểu là một chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước, có tác dụng tha tội cho hàng loạt những người phạm tội nhất định nào đó và đại xá được ban hành vào những dịp có sự kiện đặc biệt quan trọng của đấy nước và trong đời sống chính trị đất nước.

Việc đại xá phải do Quốc hội quyết định đối với những tội phạm nhất định. Hình thức, mức độ và các tội được đại xá được nêu rõ trong văn bản về đại xá.

Thứ bảy, người thực hiện hành vi nguy hiểm này đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác. Việc khởi tố vụ án sẽ dẫn đến việc khởi tố bị can sau đó, truy cứu trách nhiệm hình sự với chính người thực hiện hành vi phạm tội. Hình phạt sẽ phải được áp dụng với người phạm tội nhằm mục đích giáo dục, cải tạo họ.

Vì thế, khi mà người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đó đã chết, trừ trường hợp khởi tố để tái thẩm đối với người khác, thì không có căn cứ khởi tố vụ án hình sự, nên sẽ không cần phải áp dụng hình phạt đối với họ bởi việc khởi tố đã không cần thiết nữa và trong trường hợp này mục đích của hình phạt không đạt được. Tuy nhiên, trong trường hợp người đó đã chết nhưng việc tái thẩm để minh oan cho người khác thì vẫn được khởi tố.

Thứ tám, tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135,136,138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố” (Khoản 8 Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)

Như vậy, ngược lại với quyết định khởi tố vụ án hình sự của cơ quan có thẩm quyền thì quyết định không khởi tố vụ án hình sự cũng chính do cơ quan này ra quyết định tuy nhiên việc ra quyết định này để khẳng định việc khi có các căn cứ cho rằng hành vi này không phải là hành vi phạm tội hoặc không đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật thì quyết định không khởi tố sẽ được ban hành.

Đối với trường hợp này của anh, ở khu vực mà anh đang sinh sống hiện đang có nhiều gia đình bị mất đồ đạc và các loại vật nuôi và mọi người trong làng đều nghi ngờ cho một đám thanh niên trong làng và đã bảo anh làm đơn tố giác nhóm thanh niên này với cơ quan công an về tội trộm cắp tài sản nhưng sau khi làm đơn tố giác được một thời gian thì cơ quan đó có ra quyết không khởi tố vụ án hình sự.

Với trường hợp này với việc ra quyết định không tố giác tội phạm của cơ quan có thẩm quyền được xác định có thể do không có căn cứ để chứng minh hành vi phạm tội của nhóm thanh niên này, không có sự việc phạm tội xảy ra trên thực tế mà chỉ do nghi ngờ không có căn cứ hoặc hành vi đó chưa đủ để khởi tố về tội trộm cắp tài sản do giá trị tài sản dưới 2.000.000 đồng và hành vi này không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 quy định về tội trộm cắp tài sản,… thì sẽ không thể đủ căn cứ để khởi tố hình sự.

Nếu anh còn gặp khó khăn trong việc xác định các căn cứ để không khởi tố hình sự, hãy gọi ngay cho Tổng dài pháp luật qua hotline 1900.633.705 để nhận được sự tư vấn từ các chuyên gia cùng luật sư giàu kinh nghiệm.

Thủ tục ra quyết định khởi tố vụ án hình sự của cơ quan có thẩm quyền

 

Anh Đức (Long An) có câu hỏi:

Chào Luật sư, tôi có thắc mắc muốn nhờ Luật sư giải đáp liên quan đến thủ tục ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Cách đây ít ngày tôi và một người đàn ông gần nhà có một vài xích mích nhỏ. Tôi thường xuyên phải sang nhắc nhở nhà người đàn ông này về việc bật nhạc quá to.

Điều này khiến các gia đình xung quanh rất khó chịu. Khi được nhắc nhở thì người này vẫn cố chấp không chịu tắt nhạc. Tôi có lấy điện thoại ra quay lại để làm bằng chứng thì bị người này giật lấy và ném khiến điện thoại tôi bị hỏng.

Sau đó tôi có làm đơn tố giác với cơ quan công an về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Tuy nhiên, đến nay đã hơn 1 tháng tôi vẫn chưa nhận được câu trả lời từ cơ quan công an nên. Luật sư cho tôi hỏi về thủ tục ra quyết định khởi tố vụ án hình sự được tiến hành như thế nào? Tôi xin cảm ơn.

 

>> Thủ tục ra quyết định khởi tố vụ án hình sự mới nhất, gọi ngay 1900.633.705

Trả lời:

Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình;

Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục.

Trường hợp phát hiện tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Khi cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 145 của Bộ luật này phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận.

Trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 145 của Bộ luật này thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày Viện kiểm sát có yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đó phải chuyển hồ sơ có liên quan cho Viện kiểm sát để xem xét, giải quyết.

Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Các cơ quan, tổ chức khác sau khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm thì chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Như vậy, trong trường hợp của anh các cơ quan thẩm quyền sẽ tiến hành thủ tục ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo các bước sau đây:

Bước 1:

Cơ quan có thẩm quyền khi nhận được nguồn tin tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố,… về tội phạm bằng lời hoặc bằng văn bản. Mọi tố giác, nguồn tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố sẽ phải được tiếp nhận đầy đủ và được giải quyết một cách kịp thời

Bước 2:

Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra sẽ thực hiện giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình.

Còn đối với Viện kiểm sát sẽ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Sau đó sẽ có thông báo thông báo kết quả giải quyết cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Bước 3:

Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận đó cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền.

Bước 4:

Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định: Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định không khởi tố vụ án hình sự; Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Trong trường hợp anh còn có những thắc mắc liên quan đến thủ tục khởi tố vụ án hình sự, hãy liên hệ ngay đến cho chúng tôi qua đường dây nóng 1900.633.705 để nhận được sự tư vấn miễn phí.

thu-tuc-khoi-to-vu-an-hinh-su

Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự

 

Anh Khánh (Bình Dương) có câu hỏi:

Chào Luật sư, tôi có một thắc mắc muốn nhờ Luật sư giải đáp liên quan đến việc khởi tố vụ án hình sự. Ở khu vực tôi sinh sống hiện đang có một dự án xây dựng khu công nghiệp mới. Ở khu vực này đã có một số hộ dân đồng ý đền bù và nhận tiền của bên chủ đầu tư.

Tuy nhiên, gia đình tôi và một số gia đình trong làng không đồng ý nhận đền bù. Hiện nay bên chủ đầu tư đã cho máy xúc vào làm việc khiến cho nhà tôi và các nhà xung quanh không có đường để đi vào. Bên chủ đầu tư bắt chúng tôi phải nhận tiền đền bù và rời đi. Vậy Luật sư cho tôi hỏi cơ quan nào sẽ có thẩm quyền nhận đơn tố giác đó và khởi tố vụ án mà tôi đang gặp phải? Tôi xin cảm ơn!

 

>> Ai có thẩm quyền khởi tố vụ án? Gọi ngay 1900.633.705

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi 2017 về Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự có quy định

“1. Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả vụ việc có dấu hiệu tội phạm, trừ những vụ việc do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử đang thụ lý, giải quyết quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.

2. Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp quy định tại Điều 164 của Bộ luật này.

3. Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp:

a) Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

b) Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

c) Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử.

4. Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm”.

Thứ nhất, thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra. Cơ quan điều tra có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của mình và thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân.

Cơ quan cảnh sát điều tra trong công an nhân dân khởi tố các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XIV đến Chương XXIV của Bộ luật Hình sự 2015 khi các tội đó thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án nhân dân, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra trong Quân đội nhân dân, Cơ quan an ninh điều tra trong công an nhân dân và những trường hợp do Viện kiểm sát nhân dân cũng như Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao khởi tố vụ án hình sự.

Cơ quan điều tra của lực lượng An ninh nhân dân Cơ quan an ninh điều tra của công an nhân dân khởi tố các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại Chương XVIII, Chương XXVI và các tội phạm quy định tại các điều 207, 208, 282, 283, 284, 299, 300, 303, 304, 305’ 309, 337 338, 347, 348, 349, 350 của Bộ luật hình sự năm 2015 khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án nhân dân và các tội phạm khác liên quan đến an ninh quốc gia hoặc để bảo đảm khách quan theo sự phân công của Bộ trưởng Bộ công an.

Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.

Cụ thể, khởi tố các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XIV đến Chương XXV của Bộ luật Hình sự 2015 khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của toà án quân sự (trừ những tội phạm do Viện kiểm sát quân sự hoặc Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát Quân sự Trung ương khởi tố và những tội phạm mà người thực hiện là sĩ quan, chiến sĩ an ninh nhân dân).

Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự đối với các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp do người chức vụ quyền hạn trong các cơ quan tư pháp thực hiện và các tội phạm phát sinh trong hoạt động tư pháp, trừ những trường hợp mà Viện kiểm sát Quân sự Trung ương đã khởi tố.

Lưu ý: Đối với thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự không phải ai trong cơ quan điều tra đều có thẩm quyền này mà nó chỉ thuộc về Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra.

Thứ hai, theo quy định tại Điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong các trường hợp sau:

Đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiếm lân, lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư có thẩm quyền khởi tố vụ án khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực các địa bàn quản lý của mình. Thẩm quyền ra Quyết định khởi tố vụ án hoặc Quyết định không khởi tố vụ án thuộc về người đứng đầu hoặc cấp Phó của người đứng đầu trong các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng thì quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự;

Đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì quyết định khởi tố vụ án hình sự, tiến hành hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Thứ ba, viện kiểm sát ra quyết định khởi tố đối với một vụ án hình sự trong các trường hợp như sau:

+ Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

+ Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

+ Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử.

Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả các tội phạm xảy ra trong địa phận của mình quản lý khi tự mình phát hiện có dấu vết tội phạm. Như vậy đối với thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát thuộc về Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát các cấp.

Thứ tư, hội đồng xét xử của Tòa án có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc có yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua quá trình xét xử mà việc xét xử tại phiên tòa đó đã phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm.

Nếu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử mà Hội đồng xét xử phát hiện tội phạm mới hoặc người phạm tội mới thì Tòa án trong trường hợp này sẽ không có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự mà phải Quyết định trả hồ sơ vụ án đó cho Viện kiểm sát để Viện kiểm sát quyết định khởi tố, điều tra bổ sung đối với sự kiện pháp lý phát sinh đó.

Như vậy, đối với thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi 2017 thì thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự thuộc về 04 cơ quan là Cơ quan điều tra; cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử của Tòa án nhân dân theo từng trường hợp cụ thể mà thẩm quyền của mỗi cơ quan này có sự khác biệt và được phân công một cách rõ ràng.

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 163 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về thẩm quyền điều tra vụ án hình sự như sau:

“4. Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt…”

Như vậy, theo quy định trên thì bạn có thể gửi đơn tố giác đến cơ quan điều tra nơi tội phạm xảy ra. Cụ thể, đối với trường hợp mà gia đình anh cũng như một số gia đình trong khu vực đang gặp phải thì anh sẽ phải gửi đơn tố giác hành vi phạm tội của bên chủ đầu tư đó đến cơ quan điều tra, cơ quan công an cấp huyện nơi xảy ra hành vi đó. Sau đó cơ quan điều tra sẽ có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm.

Quyền hạn và trình tự, thủ tục đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

 

Anh Tùng (Hà Nội) có câu hỏi:

Chào Luật sư, tôi có một thắc mắc muốn nhờ Luật sư giải đáp liên quan đến việc khởi tố vụ án hình sự. Bạn tôi có một đứa cháu, cách đây vài hôm cháu có đi đám cưới bạn. Do hơi quá chén nên có xảy ra xích mích với một thanh niên. Hai bên đã xảy ra va chạm và đứa cháu đó hiện đang phải nhập viện điều trị.

Gia đình cháu có ý định đưa vụ việc đó ra cơ quan công an và nhờ Luật sư bảo vệ quyền lợi của cháu. Vậy luật sư cho tôi hỏi quyền hạn, trình tự, thủ tục đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Luật sư đối với đứa cháu đó được thực hiện như thế nào? Tôi xin cảm ơn!

 

>> Thủ tục đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, gọi ngay 1900.633.705

Trả lời:

Xin chào anh Tùng! cảm ơn anh Tùng đã đặt câu hỏi cho chúng tôi. Với thắc mắc mà anh đã yêu cầu cho Tổng đài pháp luật, chúng tôi xin được trả lời như sau:

Theo quy định tại Điều 8Điều 84 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại và đương sự đã quy định rõ điều này. Đây là người được người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, được bị hại hay đương sự nhờ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, những người này có thể là Luật sư; Bào chữa viên nhân dân; Người đại diện hoặc Trợ giúp viên pháp lý.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 83 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền:

+ Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

+ Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

+ Có mặt khi lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và nếu được Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên đồng ý thì được hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Sau mỗi lần lấy lời khai của người có thẩm quyền kết thúc thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;

+ Có mặt khi đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;

+ Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 84 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có quyền:

+ Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

+ Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

+ Yêu cầu giám định, định giá tài sản;

+ Có mặt khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lấy lời khai, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói của người mà mình bảo vệ; đọc, ghi chép, sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của bị hại và đương sự sau khi kết thúc điều tra;

+ Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa; xem biên bản phiên tòa;

+ Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

+ Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;

+ Kháng cáo phần bản án, quyết định của Tòa án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

Theo quy định tại Điều 9 Thông tư 46/2019/TT-BCA về trình tự, thủ tục đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp quy định:

“Thủ tục đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố khi đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố phải xuất trình các giấy tờ:

Luật sư thì phải xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và giấy nhờ Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;

Bào chữa viên nhân dân thì cần xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận;

Đối với người đại diện của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và giấy tờ có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về mối quan hệ của họ với bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

Trực ban hình sự của Cơ quan điều tra hoặc trực ban hình sự của từng đơn vị điều tra, trực ban các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động trong việc điều tra có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

Khi nhận được hồ sơ đăng ký, đối với Cơ quan điều tra tổ chức trực ban hình sự chung thì cán bộ trực ban hình sự có trách nhiệm ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm nhận vào sổ trực ban hình sự, chuyển ngay cho đơn vị thụ lý vụ việc, vụ án để đóng dấu văn bản đến và giao ngay cho Điều tra viên được phân công giải quyết vụ án, vụ việc.

Đối với đơn vị điều tra tổ chức trực ban hình sự riêng, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, cán bộ trực ban hình sự có trách nhiệm đóng dấu văn bản đến, ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm nhận và chuyển ngay cho Điều tra viên, Cán bộ điều tra được phân công giải quyết vụ án, vụ việc”.

Trường hợp có căn cứ từ chối việc đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, cơ quan đang thụ lý vụ án, vụ việc có trách nhiệm thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do từ chối cho người bảo vệ quyền chính đáng và lợi ích hợp pháp theo quy định của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố nhờ bảo vệ quyền lợi cho họ.

Qua các quy định tại Thông tư 46/2019/TT-BCA có thể thấy trình tự, thủ tục đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp được thực hiện qua 2 bước chính như sau:

Bước 1:

Khi thực hiện việc đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố phải xuất trình các giấy tờ liên quan đến chứng chỉ hành nghề và giấy tờ liên quan đến việc người có quyền và lợi ích hợp pháp nhờ bảo vệ quyền của họ, các giấy tờ liên quan khác.

Bước 2:

Trực ban hình sự của cơ quan điều tra đó hoặc trực ban hình sự của từng đơn vị điều tra, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động trong bước điều tra tội phạm có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

Điều tra viên, Cán bộ điều tra có trách nhiệm tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ.

Trường hợp hồ sơ đầy đủ thì trong thời hạn không quá 24 giờ từ khi tiếp nhận, có trách nhiệm trình Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra. Cấp trưởng, cấp phó cơ quan được giao nhiệm vụ, có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra ký, thông báo với người có liên quan về việc đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp với người được người có quyền nhờ và vào sổ đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

Trường hợp hồ sơ chưa bảo đủ thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra thông báo cho người làm thủ tục đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp biết để bổ sung.

Đối với trường hợp mà anh đang thắc mắc thì quyền hạn và trình tự, thủ tục đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Luật sư đối với đứa cháu đó được thực hiện như sau:

Quyền và giới hạn được phép thực hiện vừa để bảo vệ được lợi ích hợp pháp của những người bị tố giác, kiến nghị khởi tố, bị hại và đương sự một cách tốt nhất vừa để đảm bảo có một sự giới hạn nhất định nhằm không để các quyền vượt quá phạm vi sự cần thiết đối với việc bảo vệ các quyền cho người cần được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp được quy định cụ thể tại Khoản 3 các Điều 83, 84 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Trình tự, thủ tục đăng ký thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp phải xuất trình các giấy tờ liên quan đến chứng chỉ hành nghề và giấy tờ liên quan đến việc người có quyền và lợi ích hợp pháp nhờ bảo vệ quyền của họ.

Trực ban hình sự của cơ quan điều tra đó hoặc trực ban hình sự của từng đơn vị điều tra tiếp nhận hồ sơ đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Trường hợp hồ sơ đầy đủ thì không quá 24 từ khi tiếp nhận. Sau đó Cấp trưởng, cấp phó cơ quan được giao nhiệm vụ, có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra ký, thông báo với người có liên quan.

quy-dinh-khoi-to-vu-an-hinh-su

Trên đây là nội dung tư vấn của đội ngũ Luật sư Tổng đài pháp luật về khởi tố vụ án hình sự và các vấn đề pháp lý liên quan. Hy vọng bài viết có thể mang lại những thông tin hữu ích cho anh. Nếu còn có điều gì vướng mắc, băn khoăn hay chưa hiểu rõ về các vấn đề pháp lý, bạn hãy liên hệ ngay cho chúng tôi qua hotline 1900.633.705để nhận được sự tư vấn từ đội ngũ luật sư có bề dày kinh nghiệm.

Rate this post
  1900633705