time

Giờ làm việc

T2 - CN 7:00 - 22:30

map

Văn Phòng Chính

Tầng 6, An Phát Building, khu đô thị mới Cầu Giấy, Hà Nội

phone

Tư vấn pháp luật miễn phí

Gọi ngay: 1900633705

Tài sản trước hôn nhân được xác định và phân chia như thế nào?

Tài sản trước hôn nhân và cách phân chia loại tài sản này khi ly hôn là vấn đề nhận được nhiều sự thắc mắc của mọi người. Bài viết sau đây, Tổng Đài Pháp Luật sẽ cùng bạn tìm hiểu những quy định pháp luật hiện hành xoay quanh vấn đề về tài sản trước hôn nhân. Nếu có thắc mắc nào cần được tư vấn khẩn cấp, hãy gọi ngay cho chúng tôi qua đường dây nóng 1900.633.705 để được hỗ trợ nhanh nhất!

tai-san-truoc-hon-nhan

Làm thế nào để xác định tài sản trước hôn nhân?

 

Anh Nam (Thái Bình) có câu hỏi như sau:
“Chào Luật sư, tháng sau tôi dự định sẽ kết hôn. Tuy nhiên năm trước khi ông nội tôi mất có để lại riêng cho tôi thừa kế một mảnh đất và một căn nhà cấp 4 trị giá khoảng 500 triệu đồng với mong muốn tôi giữ gìn mảnh đất và căn nhà này vì đây là thành quả làm việc cả đời của ông nội tôi.
Vậy Luật sư cho tôi hỏi mảnh đất và căn nhà này khi tôi kết hôn sẽ là tài sản của riêng tôi hay là tài sản chung của cả hai vợ chồng?
Tôi xin cảm ơn!”

 

>> Tư vấn cách xác định tài sản trước hôn nhân, gọi ngay 1900.633.705

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến cho Tổng Đài Pháp Luật. Để giải đáp thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra câu trả lời như sau:

Khoản 1 Điều 43 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định: Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các Điều 38, 39 và 40 của Luật hôn nhân gia đình 2014, tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ chồng.

Có thể thấy quy định vợ chồng có quyền có tài sản riêng nhằm bảo đảm cho vợ chồng có thể thực hiện các nghĩa vụ về tài sản một cách độc lập mà không cần phải phụ thuộc vào ý chí của bên kia. Trong thời kỳ hôn nhân có trường hợp chỉ một bên vợ chồng thực hiện nghĩa vụ về tài sản cho người khác thì lúc này được coi là nghĩa vụ dân sự riêng.

Vì vậy để tạo điều kiện cho vợ chồng thực hiện nghĩa vụ riêng của mình thì pháp luật phải công nhận quyền sở hữu riêng về tài sản cho vợ và chồng. Quy định này cũng nhằm để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng về tài sản của người thứ ba.

Ngoài ra việc quy định về quyền sở hữu riêng về tài sản của vợ chồng còn góp phần ngăn chặn hiện tượng kết hôn nhằm vào lợi ích kinh tế của đối phương.

Trên thực tế nếu xảy ra tranh chấp thì về mặt nguyên tắc bên nào có tài sản riêng thì phải có nghĩa vụ chứng minh đó là tài sản riêng của mình. Nếu không có căn cứ, cơ sở để chứng minh tài sản trước hôn nhân đó là tài sản riêng của mình thì nó sẽ mặc định được coi là tài sản chung.

Xét trong trường hợp của bạn có thể thấy, mảnh đất và căn nhà này là tài sản bạn được thừa kế riêng khi ông nội bạn mất. Căn cứ vào Điều 43 Luật Hôn nhân gia đình đây sẽ được xem là tài sản riêng của bạn. Vì vậy nếu muốn tránh những rắc rối sau này thì bạn với vợ sắp cưới có thể thực hiện thủ tục thỏa thuận xác lập chế độ tài sản sản của vợ chồng theo quy định tại Điều 47 Luật Hôn nhân gia đình 2014.

Trong trường hợp tư vấn của Luật sư chưa được rõ ràng về cách xác định tài sản trước hôn nhân, vui lòng đặt câu hỏi qua số điện thoại  1900.633.705 để được Luật sư có chuyên môn cao trong việc tư vấn hôn nhân gia đình hỗ trợ nhanh chóng nhất!

>> Xem thêm: Không đăng ký kết hôn có được chia tài sản không?

xac-dinh-tai-san-truoc-hon-nhan

Cách chứng minh tài sản trước hôn nhân

 

Về thời điểm xác lập tài sản

 

Chị Loan (Hòa Bình) có câu hỏi như sau:
“Chào Luật sư, tôi năm nay 28 tuổi, dự định tháng sau sẽ kết hôn. Tài sản của tôi hiện có bao gồm một căn nhà và một chiếc xe ô tô. Tôi có bàn với chồng tôi thỏa thuận xác lập tài sản riêng của vợ chồng trước hôn nhân tuy nhiên chồng tôi có nói chúng tôi tin tưởng lẫn nhau nên cũng chẳng cần làm thủ tục này cho rắc rối. Tuy nhiên tôi vẫn khá lo lắng vì số tài sản kia là công sức nhiều năm làm việc của tôi.
Vậy Luật sư cho tôi hỏi khi tôi kết hôn mà không làm thỏa thuận xác lập tài sản trước hôn nhân thì ngôi nhà và chiếc xe ô tô kia của tôi phải là tài sản chung của hai vợ chồng hay không?
Tôi xin cảm ơn!”

 

>> Tư vấn nhanh chóng về thời điểm xác lập tài sản, gọi ngay 1900.633.705

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi tới cho chúng tôi. Để tháo gỡ vướng mắc này, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời như sau:

Theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân gia đình 2014 thì tài sản riêng của vợ chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn. Theo đó để xác định được tài sản riêng của vợ chồng thì trước hết cần xác định thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân. Thời điểm bắt đầu thời ky hôn nhân được coi là dấu mốc quan trọng và là ranh giới để xác định tài sản đó là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng.

Theo quy định tại Khoản 13 Điều 3 Luật hôn nhân gia đình 2014 thì thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân. Do đó thời điểm bắt đầu được tính từ ngày đăng ký kết hôn được ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kết hôn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp.

Tài sản được tạo lập trước thời kỳ kết hôn sẽ là tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Còn tài sản nếu được tạo lập thời điểm sau khi đăng ký kết hôn sẽ thuộc vào khối tài sản chung của vợ chồng trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận khác.

Để chứng minh tài sản riêng của vợ hoặc chồng khi ly hôn thì các bên cần có chứng cứ chứng minh tài sản trước hôn nhân đó thuộc các trường hợp là tài sản riêng chẳng hạn:

Đối với tài sản trước hôn nhân thì cần phải có hợp đồng mua bán tài sản; các hóa đơn chứng từ chứng minh việc mua bán chuyển nhượng của vợ hoặc chồng; Giấy chứng nhận quyền sở hữu của riêng vợ hoặc chồng…

Đối với tài sản được thừa kế riêng hoặc tặng cho riêng thì cần: văn bản chứng minh quyền thừa kế đó là hợp pháp; hợp đồng tặng cho và giấy tờ chứng minh việc hoàn tất tặng cho…; Đối với tài sản được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì các bên phải nộp văn bản thỏa thuận chia tài sản chung được công chứng theo quy định của pháp luật…

Hơn nữa, theo quy định tại Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐCP thì tài sản riêng của vợ chồng còn gồm: quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ; tài sản mà vợ chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác; khoản trợ cấp hoặc ưu đãi mà vợ chồng nhận được theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng, quyền tài sản khác gắn liền với thân nhân của vợ hoặc chồng.

Trong trường hợp của bạn có thể thấy ngôi nhà và chiếc xe là tài sản được tạo lập trước thời kỳ hôn nhân do đó đây sẽ là tài sản riêng của bạn. Do đó bạn sẽ có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Vì vậy nếu trường hợp này hai bạn không có thỏa thuận nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản riêng của hai vợ chồng thì căn nhà và chiếc xe vẫn thuộc sở hữu riêng của bạn.

Vì vậy nếu trường hợp hai bạn có tranh chấp về việc chia tài sản khi ly hôn thì bạn sẽ phải chứng minh căn nhà và chiếc xe là tài sản thuộc sở hữu riêng của mình, được tạo lập trước thời kỳ hôn nhân thông qua các giấy tờ như hợp đồng mua bán tài sản, giấy chứng nhận quyền sở hữu riêng… thì lúc này kể cả khi ly hôn thì ngôi nhà và chiếc xe vẫn thuộc quyền sở hữu của bạn theo nguyên tắc quy định tại Khoản 4 Điều 59 Luật Hôn nhân gia đình 2014.

Mọi thắc mắc về thời điểm xác lập tài sản trước hôn nhân, vui lòng để lại câu hỏi qua email của Tổng Đài Pháp Luật hoặc liên hệ trực tiếp đường dây nóng 1900.633.705 để được Luật sư trực tiếp tiếp nhận câu hỏi và giải đáp nhanh chóng nhất!

Về nguồn gốc tài sản

 

Chị Châu (Nghệ An) có câu hỏi như sau:
“Chào luật sư, tôi kết hôn với anh Phương từ năm 2016 đến nay. Gần đây anh Phương thường xuyên nhậu nhẹt, bỏ bê vợ con, nhiều lúc anh còn chửi rủa đánh đập tôi. Do không chịu đựng được nữa nên tôi quyết định ly hôn với anh ta.
Khi tôi đề cập đến vấn đề chia tài sản với anh Phương thì anh ta đòi nhận toàn bộ những tài sản có giá trị trong đó có bao gồm một căn nhà mà tôi được thừa kế riêng trước khi kết hôn với anh Phương khi bố tôi mất.
Tôi có nói đây là căn nhà tôi tôi được thừa kế riêng nên nó là tài sản của tôi, căn nhà là thành quả lao động cả đời của bố tôi, tôi không muốn nó rơi vào ray một kẻ nát rượu như anh Phương. Khi nghe tôi nói xong thì anh ta nổi giận và nói căn nhà này phải là của anh ta do anh ta có công trong việc sửa sang lại ngôi nhà.
Vậy Luật sư cho tôi hỏi trong trường hợp của tôi, căn nhà sẽ thuộc vào tài sản riêng của tôi hay là tài sản chung của tôi với anh Phương? Tôi xin cảm ơn!”

 

>> Cách xác định tài sản chung, tài sản riêng, gọi ngay 1900.633.705

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn câu hỏi của bạn đã gửi đến cho chúng tôi. Sau đây sẽ là phần trả lời của chúng tôi để giải đáp thắc mắc của bạn:

Yếu tố thứ hai cũng là căn cứ thứ hai cần sử dụng để xác định chính xác tài sản riêng của vợ chồng đó là nguồn gốc hình thành tài sản đó, hay nói cách khác là phương thức hình thành tài sản. Nguồn gốc của tài sản có thể là do bản thân vợ, chồng tự mình tạo dựng lên, hoặc thông qua con đường tặng cho thừa kế…

Có thể khẳng định để có thể chứng minh được tài sản riêng của các bên thì mỗi bên cần phải xác định được tài sản đó có nguồn gốc từ đâu, chẳng hạn tài sản đó có phải của ông bà tổ tiên để lại hay của bố mẹ hay người thân tặng cho riêng, hoặc tài sản đó có được là tự việc được nhận thừa kế hay không.

Nếu tài sản đó được mua bằng tiền thì tiền đó có nguồn gốc từ đâu, từ tiền riêng hay từ tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Liệu có giấy tờ nào chứng minh được đó là tài sản riêng hay khoản tiền riêng của vợ hoặc chồng hay không, hay đã có cơ quan nào xác nhận là tài sản riêng của vợ chồng hay chưa.

Quay trường hợp của bạn khoản 3 Điều 3 Luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định: “Nếu trường hợp không chứng minh được, không có căn cứ mà tài sản đang thuộc diện tranh chấp là tài sản riêng của vợ/chồng thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.

Vì vậy trong trường hợp này bạn cần phải có những chứng cứ chứng minh được ngôi nhà trên là tài sản riêng của bạn bằng một số giấy tờ chứng minh việc thừa kế của bạn là hợp pháp. Khi bạn chứng minh được ngôi nhà trên là tài sản mà bạn được thừa kế riêng hợp pháp thì Tòa án sẽ công nhận tài sản này là tài sản riêng của bạn.

Theo đó về nguyên tắc giải quyết tài sản khi ly hôn, thì tài sản riêng của vợ hoặc chồng sẽ thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã được nhập vào tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản chung với tài sản riêng mà vợ chồng có yêu cầu về việc chia tài sản thì sẽ được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó. (khoản 4 Điều 59 Luật hôn nhân gia đình 2014).

Do đó trường hợp của bạn, căn nhà là tài sản riêng của bạn thì sau khi ly hôn vẫn thuộc quyền sở hữu của bạn. Tuy nhiên chồng bạn đã có đóng góp về công sức cũng như của cải trong việc tu sửa lại ngôi nhà do đó vì vậy bạn sẽ phải thanh toán một phần giá trị tương đương với công sức, của cải mà chồng bạn đã đóng góp để nâng cấp căn nhà đó.

Trên đây là tư vấn của Luật sư về cách xác định nguồn gốc tài sản trước hôn nhân của vợ chồng. Nếu bạn còn gặp bất kỳ khó khăn nào trong vấn đề này, hãy gọi cho chúng tôi qua hotline 1900.633.705 để được trao đổi và lắng nghe ý kiến từ đội ngũ Luật sư uy tín, dày dặn kinh nghiệm tại Tổng Đài Pháp Luật.

Về quá trình sử dụng tài sản

 

Chị Diệu (Cao Bằng) có câu hỏi như sau:
“Chào Luật sư, tôi có thắc mắc như sau: Căn nhà mà vợ chồng tôi đang ở là tài sản của anh Hải chồng tôi được bố mẹ mua cho riêng trước khi cưới tôi. Mấy năm trở lại đây do xảy ra nhiều mâu thuẫn nên tôi và anh Hải quyết định sẽ ly hôn.
Tuy nhiên hiện tại tôi lại không có nhà riêng cũng chưa tìm được chỗ ở mới. Tôi lo sợ khi chúng tôi ly hôn thì tôi sẽ bị anh Hải lập tức đuổi ra khỏi nhà. Tuy nhiên tôi nghe nói nếu không có chỗ ở thì có thể ở nhờ nhà chồng cũ một vài tháng.
Mong Luật sư có thể giải đáp rõ cho tôi biết về vấn đề này. Tôi xin cảm ơn!”

 

>> Tư vấn việc tài sản trước hôn nhân thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng, gọi ngay 1900.633.705

Trả lời:

Chào bạn, rất cảm ơn câu hỏi của bạn. Để giải đáp thắc mắc của bạn, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời như sau

Tại Điều 31 Luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định nếu tài sản là bất động sản duy nhất thì việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng và phải có sự thỏa thuận của vợ chồng.

Còn tại khoản 2 Điều 35 Luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ và chồng trong những trường hợp sau:

Bất động sản

Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu

Tài sản mà đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu cho gia đình

Nếu nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu sẽ có quyền xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt những giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải đảm bảo chỗ ở cho cả vợ chồng.

Xét trong trường hợp của bạn có thể thấy chồng bạn có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, không nhập hoặc nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Vì vậy trong trường hợp này nếu vợ chồng bạn không có thỏa thuận nhập căn nhà vào khối tài sản chung thì căn nhà này vẫn thuộc sở hữu riêng cả chồng chị.

Tại Điều 63 Luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định về quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn trong đó nếu nhà ở mà thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó. Trong trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì sẽ được quyền lưu cư trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Vì vậy theo quy định của điều luật trên thì trong thời hạn là 6 tháng để bạn đi tìm chỗ ở mới bạn có thể lưu cư ở nhà của chồng bạn.

Nếu bạn còn bất kỳ thắc mắc nào khác về quyền sở hữu tài sản trước hôn nhân, hãy kết nối ngay với Luật sư của chúng tôi chỉ với 1 cuộc gọi qua số hotline 1900.633.705 để được hỗ trợ nhanh chóng nhất!

Tài sản trước hôn nhân khi ly hôn chia thế nào?

 

Chị Chi (Thái Bình) có câu hỏi như sau:
“Chào Luật sư, tôi có vấn đề cần được tư vấn như sau:
Tôi đã kết hôn tính đến nay là được 7 năm. Trong suốt thời kỳ hôn nhân cuộc sống của tôi cực kỳ hạnh phúc. Tuy nhiên gần đây tôi có phát hiện ra chồng tôi ngoại tình với cô thư lý ở công ty. Bản thân tôi không thể chấp nhận sự lừa dối này nên tôi quyết định sẽ ly hôn. Tôi cũng đã trao đổi với chồng và anh ta cũng đồng ý thuận tình ly hôn với tôi. Tuy nhiên tôi có một căn biệt thự được bố mẹ tôi mua cho trước khi tôi kết hôn với anh này.
Vậy Luật sư cho tôi hỏi trường hợp của tôi căn biệt thự là tài sản trước hôn nhân của tôi sẽ được chia như thế nào? Mong Luật sư giải đáp sớm cho tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!”

 

>> Tư vấn cách chia tài sản trước hôn nhân khi ly hôn nhanh nhất, gọi ngay 1900.633.705

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn câu hỏi này của bạn. Để giải đáp vướng mắc của bạn, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời như sau:

Theo quy định tại Điều 44 Luật Hôn nhân gia đình 2014 thì trong thời kì hôn nhân, một bên vợ hoặc chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, nhập hoặc không nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung của vợ chồng. Như vậy việc một trong hai bên nhập hoặc không nhập tài sản riêng của họ vào tài sản chung sẽ phát sinh hậu quả khác nhau trong trường hợp chia tài sản khi ly hôn.

Do những thông tin mà bạn cung cấp chưa đề cập đến việc bạn đã nhập căn biệt thự của bạn vào khối tài sản chung của vợ chồng bạn hay chưa nên chúng tôi xin được chia ra hai trường hợp như sau:

Trường hợp bạn chưa xác nhập căn nhà vào khối tài sản chung vợ chồng:

Theo quy định tại Khoản 4 điều 59 Luật Hôn nhân gia đình 2014 về nguyên tắc giải quyết tài sản trước hôn nhân của vợ chồng khi ly hôn trong đó có nguyên tắc “Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.”

Đối với trường hợp này căn biệt thự là tài sản trước hôn nhân bạn có được mà bố mẹ bạn mua tặng như vậy sẽ xác định đây là tài sản riêng của bạn. Trong thời kỳ hôn nhân bạn cũng không tiến hành nhập tài sản riêng vào tài sản chung vợ chồng. Vì vậy khi ly hôn thì tài sản riêng của bên nào sẽ vẫn thuộc quyền sở hữu của bên đó.

Do vậy, trong trường hợp này căn biệt thự vẫn thuộc sở hữu của bạn mà không bị chia cho người chồng khi ly hôn.

Trường hợp hai vợ chồng bạn đã thỏa thuận với nhau về việc nhập căn nhà vào khối tài sản chung của vợ chồng

Theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân gia đình 2014 có quy định về chia tài sản trước hôn nhân khi ly hôn theo đó nếu tài sản đã được nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia theo sự thỏa thuận của vợ chồng. Trong trường hợp vợ chồng bạn không thỏa thuận được về việc chia căn biệt thự đó thì Tòa án sẽ chia theo nguyên tắc cơ bản là chia đôi, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên vào khối tài sản này hoặc yếu tố lỗi của bên nào đó dẫn tới việc vợ chồng ly hôn.

Do đó lúc này bạn sẽ không được một mình thừa hưởng toàn bộ căn biệt thự như trường hợp trên, vì vậy nếu bạn muốn có lợi khi chia căn biệt thự này với nguồn gốc được cha mẹ tặng cho thì bạn cần chứng minh được nguồn gốc đó, hay phần công sức đóng góp của mình vào căn biệt thự này.

Việc chồng bạn ngoại tình cũng được coi là một trong những hành vi vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới việc vợ chồng ly hôn. Do đó bạn cũng nên chứng minh lỗi của chồng bạn để bảo vệ quyền lợi về tài sản trước hôn nhân và quyền lợi khác cho mình khi ly hôn đơn phương.

Trên đây là tư vấn của Luật sư về cách chia tài sản trước hôn nhân khi vợ chồng ly hôn. Trong quá phân chia tài sản, nếu vợ chồng bạn gặp bất kỳ khó khăn nào, hãy gọi ngay cho chúng tôi theo hotline 1900.633.705 để được hỗ trợ kịp thời!

phan-chia-tai-san-truoc-hon-nhan-khi-ly-hon

Có được lập văn bản thỏa thuận tài sản riêng trước hôn nhân không?

 

Bạn Huỳnh (Cần Thơ) có thắc mắc như sau:
“Thưa Luật sư, em hiện 28 tuổi đã có gia đình. Khi em kết hôn với chồng thì bố mẹ em có cho một khoản tiền và dặn phải lấy để mua đất. Gần đây em mới có cơ hội để mua một mảnh đất ưng ý, tuy nhiên em muốn sở hữu cũng như đứng tên một mình đối với mảnh đất này vì đây là tiền mà bố mẹ em cho em. Chồng em cũng không có gì phản đối về quyết định này của em. Vì vậy để chắc chắn thì vợ chồng em có ký với nhau một văn bản gọi là văn bản thỏa thuận tài sản riêng của vợ chồng và có công chứng.
Vậy Luật sư cho em hỏi, việc em ký bản thỏa thuận trên là đúng hay sai? Trường hợp xấu có tranh chấp xảy ra thì mảnh đất đó vẫn là tài sản của riêng em hay sẽ là tài sản chung của vợ chồng?

 

>> Tư vấn cách lập văn bản thỏa thuận tài sản riêng trước hôn nhân, gọi ngay 1900.633.705

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn câu hỏi này của bạn. Để giải đáp thắc mắc trên, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời như sau:

Luật Dân sự nói chung và Luật hôn nhân gia đình nói riêng luôn tôn trọng sự thỏa thuận giữa các bên. Văn bản thỏa thuận tài sản trước hôn nhân của bạn và chồng bạn được cả hai bạn tự do, tự nguyện ký kết, được lập thành văn bản có chữ ký của cả hai đồng thời văn bản này cũng không vi phạm các điều cấm của pháp luật. Do đó việc bạn đã ký thỏa thuận được coi là một căn cứ chứng minh quyền sở hữu riêng của bạn đối với mảnh đất nó trên là hợp pháp.

Vì vậy trong tương lai nếu có trường hợp xảy ra tranh chấp thì khi xét xử Tòa án sẽ coi đó là một bằng chứng để chứng minh. Ngoài ra bạn cũng nên lưu giữ các giấy tờ khác như hợp đồng tặng cho mà bố mẹ bạn tặng khoản tiền cho bạn, điều này đảm bảo bạn có đủ các căn cứ vững chắc chứng minh mảnh đất này là tài sản riêng của bạn và chồng bạn sẽ không thể tranh chấp tại Tòa án.

Tài sản trước hôn nhân nhưng đứng tên cả hai vợ chồng là tài sản chung hay riêng?

 

Chị Liên (Hà Giang) có câu hỏi như sau:
“Thưa Luật sư, tôi có thắc mắc cần được giải đáp như sau:
Hai vợ chồng tôi lấy nhau được khoảng 12 năm, do đời sống hôn nhân thường xuyên xảy ra cãi vã, mâu thuẫn nên chúng tôi quyết định sẽ ly hôn để cả hai có thể tìm được người phù hợp với mình.
Về phần tài sản thì chồng tôi có mua một căn chung cư trước khi chúng tôi kết hôn với nhau. Tuy nhiên căn chung cư đó thì được mua trả góp, tức là trước khi chúng tôi lấy nhau thì chồng tôi mới trả tiền nhà 50%. Sau khi chúng tôi kết hôn thì cả hai vợ chồng có đóng 50% số tiền còn lại. Vì lý do này nên trong giấy tờ thì cả hai vợ chồng tôi đều đứng tên.
Vậy Luật sư cho tôi hỏi, khi chúng tôi ly hôn thì căn nhà này được coi là tài sản riêng của chồng tôi hay tài sản chung của hai chúng tôi? Mong Luật sư có thể giải đáp giúp tôi, tôi xin cảm ơn!”

 

>> Tư vấn việc chia tài sản trước hôn nhân đứng tên cả hai vợ chồng, gọi ngay 1900.633.705

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng cũng như gửi câu hỏi đến cho Tổng Đài Pháp Luật. Chúng tôi xin được đưa ra những giải đáp sau đây:

Tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình 2014 có quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung”.

Theo quy định trên tuy ngôi nhà được chồng bạn mua trả góp trước khi đăng ký kết hôn nhưng một nửa giá trị ngôi nhà lại được trả trong thời kỳ hôn nhân, được thanh toán bằng tiền lương hoặc các thu nhập khác của vợ, chồng bạn trong thời kỳ hôn nhân cho nên phần giá trị ngôi nhà được trả góp trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng bạn.

Mặt khác trên thực tế thì Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đứng tên cả hai vợ chồng bạn nên có thể sẽ được coi là đã có sự chấp thuận thỏa thuận của vợ chồng về việc căn nhà đó được sáp nhập là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Như vậy có thể thấy căn nhà đang đứng tên vợ chồng bạn là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nên khi làm thủ tục ly hôn sẽ được chia theo quy định của pháp luật.

Trên đây là tư vấn của Luật sư về vấn đề tài sản trước hôn nhân và các trường hợp cụ thể trong thực tế. Nếu có bất cứ vấn đề gì thắc mắc cần giải đáp, hãy nhấc máy và gọi đến ngay cho Tổng Đài Pháp Luật qua đường dây nóng 1900.633.705 để được hỗ trợ nhanh chóng và chính xác nhất.

Rate this post
  1900633705