time

Giờ làm việc

T2 - CN 7:00 - 22:30

map

Văn Phòng Chính

Tầng 6, An Phát Building, khu đô thị mới Cầu Giấy, Hà Nội

phone

Tư vấn pháp luật miễn phí

Gọi ngay: 1900633705

Ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai quy định như thế nào?

Ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai là một trong những vấn đề xảy ra phổ biến trên trong đời sống. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật thì không phải trường hợp nào cũng có thể tiến hành ly hôn đơn phương. Vậy khi nào tòa án giải quyết ly hôn đơn phương khi vợ đang có thai? Việc chia tài sản trong trường hợp này được quy định như thế nào? Bài viết sau đây của Tổng Đài Pháp Luật sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn các vấn đề trên. Mọi vướng mắc liên quan đến vấn đề này, hãy gọi ngay đến số điện thoại 1900.633.705 để được các Luật sư giải đáp chi tiết!

>> Tư vấn quy định về ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai, gọi ngay 1900.633.705

tu-van-quy-dinh-ve-ly-hon-don-phuong-khi-vo-dang-mang-thai
Tư vấn quy định về ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai

 

Có được ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai?

 

Bạn Minh Thắng (Thanh Hóa) có câu hỏi:

“Tôi và vợ kết hôn từ năm 2010 và có 2 người con chung. Hiện nay, vợ tôi đang mang thai được 6 tháng. Vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng ngày càng đi xuống. Vợ tôi thường xuyên không ở nhà, không quan tâm đến chồng con. Vợ chồng chúng tôi đã nói chuyện nhiều lần để giải quyết vấn đề này mà vẫn chưa giải quyết được. Nhận thấy hôn nhân không còn hạnh phúc, vì thế tôi muốn ly hôn với vợ nhưng vợ tôi không đồng ý. Vậy nên tôi muốn hỏi Luật sư: Liệu tôi có thể tiến hành ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai hay không?”

Tôi xin cảm ơn!”

 

>> Ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai có được không? Gọi ngay 1900.633.705

Trả lời:

Chào bạn Thắng, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến cho chúng tôi! Sau đây, chúng tôi xin được đưa ra câu trả lời như sau để giải đáp thắc mắc của bạn:

Căn cứ theo Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn như sau:

“1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”.

Theo quy định pháp luật, vợ, chồng có quyền được yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Tuy nhiên, căn cứ theo Khoản 3 Điều này thì người chồng không có quyền được yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi người vợ đang mang thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Căn cứ vào quy định trên pháp luật hạn chế quyền ly hôn của người chồng trong trường hợp ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai để bảo đảm quyền lợi chính đáng cho phụ nữ và trẻ em. Đặc biệt là phụ nữ đang mang thai hoặc phải nuôi con nhỏ. Đồng thời bảo đảm cho những đứa trẻ sinh ra vẫn còn quá nhỏ, cần có sự chăm sóc của cả bố và mẹ.

Luật không cấm trường hợp ngược lại là vợ muốn ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai với người chồng nếu có các căn cứ chứng minh chồng mình có hành vi bạo lực gia đình hoặc hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Vậy người vợ có quyền trong việc ly hôn đơn phương khi đang mang thai mà không cần phải có sự đồng ý của chồng.

Như vậy, đối với trường hợp của anh Thắng, theo quy định pháp luật hiện hành, vì vợ anh đang mang thai ở tháng thứ sáu nên mặc dù xác định rằng hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được nhưng anh vẫn không có quyền được yêu cầu ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai (trừ trường hợp vợ anh là người có yêu cầu ly hôn với tư cách là người khởi kiện hoặc trường hợp hai người thuận tình ly hôn). Nếu anh còn thắc mắc khác liên quan đến vấn đề này, gọi ngay đến hotline 1900.633.705 để được Luật sư tư vấn nhanh chóng nhất!

Tòa án có giải quyết yêu cầu ly hôn đơn phương khi vợ mang thai không?

 

Chị Vân (Nghệ An) có câu hỏi dành cho Luật sư:

“Tôi và chồng tự nguyện kết hôn năm 2014. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Chồng tôi thường xuyên ăn nhậu và có hành vi bạo lực gia đình. Hiện nay tôi đang mang thai ở tháng thứ 5, tình cảm vợ chồng nay không còn. Bản thân là người gặp khó khăn trong việc có con nên tôi lo sợ hành vi bạo lực gia đình của chồng có thể sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân và thai nhi. Xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng và không thể hàn gắn nên bản thân mong muốn được ly hôn với chồng. Tuy nhiên anh ấy và hai bên gia đình không đồng ý.

Vậy nên, tôi muốn hỏi Luật sư như sau: Liệu rằng Tòa án có giải quyết yêu cầu của tôi về việc ly hôn đơn phương với chồng dù đang mang thai hay không? Tôi xin cảm ơn!”

 

>> Ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai có được Tòa án giải quyết không? Gọi ngay 1900.633.705

Trả lời:

Xin chào chị Vân! Cảm ơn chị Vân đã gửi câu hỏi đến cho chúng tôi. Sau đây chúng tôi sẽ giải đáp thắc mắc của chị như sau:

Căn cứ tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.”

Qua đó có thể nhận định rằng có ba căn cứ ly hôn được áp dụng cho các trường hợp ly hôn khi một bên vợ, chồng yêu cầu. Điều kiện cần thiết để Tòa án giải quyết cho ly hôn là các tình tiết, sự việc phản ánh tình trạng đúng rằng mối quan hệ vợ, chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Mục 8 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn xác định căn cứ về tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được như sau:

a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

– Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

– Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

– Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

a.2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8 này. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

a.3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

Việc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng là một trong những căn cứ để giải quyết yêu cầu ly hôn. Tòa án sẽ xem xét và giải quyết yêu cầu ly hôn đơn phương khi đáp ứng đầy đủ các căn cứ được quy định tại Điều này.

Theo như trình bày của chị Vân, trong quá trình chung sống chồng chị vẫn luôn có hành vi đánh đập, kể cả giai đoạn chị đang trong quá trình mang thai dẫn tới mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục chung sống. Trường hợp của chị Vân được xác định là có đủ căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và có đầy đủ bằng chứng để chứng minh hành vi bạo lực gia đình của chồng chị dẫn đến vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của người chồng trong thời kỳ hôn nhân. Vậy chị có quyền làm đơn xin ly hôn đơn phương gửi lên Tòa án nhân dân quận, huyện nơi chồng chị cư trú để được yêu cầu giải quyết.

Như vậy, nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện, các căn cứ thì Tòa án vẫn sẽ giải quyết yêu cầu ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai nếu người vợ có yêu cầu. Vậy nên, nếu có nhu cầu thì chị Vân hãy làm hồ sơ gửi đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng chị đang cư trú hoặc làm việc để yêu cầu giải quyết thủ tục ly hôn đơn phương, Tòa án sẽ tiến hành kiểm tra sau đó thụ lý và giải quyết cho chị.

Trên đây là giải đáp của Tổng Đài Pháp Luật cho câu hỏi Tòa án có giải quyết yêu cầu ly hôn đơn phương khi vợ mang thai không, nếu bạn còn thắc mắc gọi ngay 1900.633.705 để được luật sư tư vấn chi tiết!

>> Xem thêm: Ly hôn đơn phương mất bao lâu? Tư vấn ly hôn nhanh chóng 24/7

viec-chia-tai-san-chung-khi-ly-hon-don-phuong-khi-vo-dang-mang-thai
Việc phân chia tài sản chung khi ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai

 

Việc phân chia tài sản chung khi ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai

 

Chị Hải Yến (Hòa Bình) có thắc mắc:

“Tôi và chồng đăng ký kết hôn vào năm 2007. Đến năm 2017, vợ chồng tôi phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do quan điểm sống, tính tình, lời nói của vợ chồng không hợp nhau, giữa vợ chồng xảy ra cãi vã. Hơn thế nữa chồng tôi có hành vi ngoại tình và không chia sẻ cùng tôi về kinh tế khiến cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Bản thân tôi còn đang mang thai con thứ hai, thế nhưng chồng và gia đình chồng không hề quan tâm, chăm sóc. Nay xác định tình cảm vợ chồng thật sự không còn nữa, mâu thuẫn vợ chồng không thể nào hàn gắn lại được như xưa, vì thế, tôi mong muốn được ly hôn đơn phương với chồng.

Tôi muốn hỏi Luật sư: Việc phân chia tài sản chung trong trường hợp ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai được thực hiện như thế nào? Trường hợp tôi đang mang thai có được phân chia tài sản phần lớn hơn không? Xin cảm ơn Luật sư!”

 

>> Chia tài sản chung khi ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai như thế nào? Gọi ngay 1900.633.705

Trả lời:

Cảm ơn chị Yến đã gửi câu hỏi đến cho chúng tôi! Để giải đáp thắc mắc của chị, chúng tôi đã dựa trên các căn cứ của pháp luật và xin đưa ra câu trả lời như sau:

Đối với việc ly hôn đơn phương hai bên, vợ chồng không thỏa thuận, thống nhất được về vấn đề tài sản thì tài sản chung của vợ chồng đã tạo dựng và xác lập trong thời kỳ hôn nhân sẽ được chia theo quy định của pháp luật. Việc phân chia tài sản khi ly hôn đơn phương sẽ được tiến hành dựa trên nguyên tắc của pháp luật về giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

“1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.”

Trong thực tiễn không phải trường hợp nào vợ chồng cũng có thể cùng nhau thỏa thuận việc chia tài sản chung của họ theo đúng ý nguyện của mình. Nhất là khi tình cảm vợ chồng không còn thì rất khó để hai bên có thể ngồi lại thỏa thuận chai tài sản chung. Do vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Pháp luật quy định, trong trường hợp vợ chồng chọn chế độ tài sản theo luật quy định và đã có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận nhưng thỏa thuận này bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu hoặc với những vấn đề không được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Hoặc trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo luật định thì khi vợ chồng ly hôn mà không tự thỏa thuận được việc chia tài sản chung thì vợ, chồng có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn Luật hôn nhân và gia đình quy định về xử lý việc kết hôn trái pháp luật, thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu và nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn được ban hành ngày 06/01/2016 có quy định.

Theo đó, trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác minh tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia:

Hoàn cảnh của gia đình và vợ, chồng;

Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập duy trì và phát triển khối tài sản chung;

Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng;

Như vậy, đối với trường hợp của chị Yến về yêu cầu ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai, Tòa án sẽ dựa trên nguyên tắc phân chia tài sản vợ chồng khi ly hôn để giải quyết và xem xét việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên vợ, chồng. Tòa án sẽ không xem xét việc chị đang mang thai để làm căn cứ để chia tài sản khi ly hôn. Theo đó, thông thường tài sản chung của vợ chồng sẽ chia bằng hiện vật, trường hợp nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị. Bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thực hiện thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

Trên đây là giải đáp của Luật sư dựa trên quy định của pháp luật hiện hành về chia tài sản chung khi ly hôn đơn phương, nếu còn thắc mắc gọi ngay đến đường dây nóng 1900.633.705 để được hỗ trợ nhanh chóng!

 

>> Xem thêm: Thủ tục ly hôn có tài sản chung được giải quyết như thế nào?

 

Ly hôn khi vợ mang bầu, con sinh ra sau ly hôn có phải là con chung của vợ chồng?

 

>> Cách con chung trong trường hợp đã ly hôn khi vợ mang bầu, gọi ngay 1900.633.705

Theo nguyên tắc suy đoán pháp lý, thời kỳ hôn nhân được coi là một trong những căn cứ quan trọng để xác định tính đương nhiên trong việc xác định cha, mẹ, con. Con sinh ra trong trường hợp cha, mẹ có hôn nhân hợp pháp (có đăng ký kết hôn hoặc không đăng ký kết hôn nhưng được pháp luật thừa nhận là vợ chồng) hay còn gọi là “con trong giá thú” là con của cặp vợ chồng có quan hệ hôn nhân được Nhà nước công nhận.

Theo đó, Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc xác định cha, mẹ cụ thể như sau:

“1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.”

Theo quy định như trên thì căn cứ để xác định cha, mẹ, con bao gồm: căn cứ vào thời kỳ hôn nhân, căn cứ vào thụ thai, sự kiện sinh đẻ và căn cứ vào sự thừa nhận của cha mẹ và con:

+ Căn cứ vào thời kỳ hôn nhân, theo quy định tại khoản 13 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, “Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân”.

+ Căn cứ vào thụ thai và sự kiện sinh đẻ, quá trình thụ thai, sinh đẻ của con người thể hiện chức năng đặc trưng là duy trì nòi giống của con người, sự kiện sinh đẻ luôn gắn liền với yếu tố xã hội mà trước hết là hôn nhân và gia đình. Do vậy, pháp luật gắn sự kiện này trong việc xác định cha, mẹ, con.

+ Căn cứ vào sự thừa nhận của cha mẹ về con chung của vợ chồng, đây là trường hợp đặc biệt chỉ áp dụng trong trường hợp người vợ sinh con trước ngày đăng ký kết hôn.

Như vậy có thể dựa trên căn cứ thụ thai và sự kiện sinh đẻ để xác định ly hôn khi vợ mang bầu, con sinh ra sau ly hôn có phải là con chung của vợ chồng hay không. Theo nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ, con tại Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình 2014, có thể thấy trong việc xác định cha, mẹ, pháp luật chú trọng tới “thời điểm sinh con” và “thời điểm có thai” của người vợ. Theo đó, trong các trường hợp người vợ sinh con bất kể thời điểm nào trong thời kỳ hôn nhân hoặc sinh con trong khoảng thời gian được suy đoán là đã có thai trong thời kỳ hôn nhân (300 ngày kể từ ngày chấm dứt hôn nhân ) thì con sinh ra đều được xác định là con chung của vợ chồng. Quy định này có ý nghĩa sâu sắc trong việc xác định cha, mẹ , con, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ và trẻ em.

Tóm tại, như đã phân tích ở trên thì trường hợp ly hôn khi vợ mang bầu, con sinh ra sau ly hôn được xác định là con chung của vợ chồng theo nguyên tắc suy đoán pháp lý.

Trên đây là giải đáp của Luật sư cho câu hỏi ly hôn khi vợ mang bầu, con sinh ra sau ly hôn có phải là con chung của vợ chồng. Nếu còn bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến vấn đề này, hãy gọi ngay hotline 1900.633.705 để được các luật sư có chuyên môn sâu tư vấn nhanh chóng!

Đang mang thai ly hôn thì việc nuôi con thực hiện như thế nào?

 

Chị Linh (Bắc Ninh) có câu hỏi:“Chào Luật sư, tôi có câu hỏi mong muốn được giải đáp như sau:

Vợ chồng tôi kết hôn từ năm 2018, hiện nay tôi đang mang bầu bé thứ hai ở tháng thứ 3. Trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chồng tôi nghiện cờ bạc, không quan tâm chăm sóc đến vợ con. Dù đã nhiều lần tha thứ nhưng chồng tôi vẫn không thay đổi. Vì không thể tiếp tục chung sống, bản thân là người có kinh tế vững và nhận thấy có thể chăm sóc được mình và các con tôi nên tôi quyết định ly hôn. Tuy nhiên, tôi đang không biết khi đang mang thai ly hôn thì ai sẽ có quyền được nuôi con? Trên đây là câu hỏi của tôi, rất mong nhận được câu trả lời từ Luật sư!”

 

>>> Ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai thì việc nuôi con được quy định như thế nào? Gọi ngay 1900.633.705
Trả lời:

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên thì Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn tại Điều 81 như sau:

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con. Trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi. Trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Căn cứ vào điều luật này chúng ta có thể nhận thấy pháp luật tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của hai vợ chồng về quyền nuôi con khi ly hôn. Tòa án chỉ giải quyết tranh chấp trong trường hợp hai bên không thể thương lượng, thỏa thuận được, lúc này Tòa sẽ dựa vào quy định Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết tranh chấp về quyền nuôi con khi ly hôn. Tòa án xem xét độ tuổi, ý chí nguyện vọng của con chung để xác định những điều kiện tốt nhất cho trẻ khi giao con chung cho vợ chồng trực tiếp khi ly hôn:

+ Nếu con chung từ dưới 36 tháng tuổi thì Tòa án phải giao con cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng.

+ Khi con từ đủ 36 tháng tuổi đến dưới 07 tuổi thì Tòa án căn cứ vào khả năng đáp ứng tốt nhất cho sự phát triển của trẻ của cha, mẹ để giao con chung cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng.

+ Khi con từ đủ 07 tuổi trở lên thì Tòa án phải xem xét nguyện vọng của con và khả năng đáp ứng tốt nhất cho sự phát triển của trẻ của cha, mẹ để giao con chung cho cha hoặc mẹ nuôi dưỡng

Trường hợp chị Linh khi ly hôn chị Linh đang mang thai, vậy nên sau khi ly con sinh dưới 36 tháng tuổi sẽ được giao cho chị Linh trực tiếp nuôi con. Nếu trường hợp chị không đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì hai bên vợ chồng có thể thỏa thuận. Như vậy, theo nguyên tắc thì sau ly hôn con chị sinh ra chị là người có quyền trực tiếp nuôi con nếu không có thỏa thuận khác. Người không trực tiếp nuôi con sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho đứa bé đến khi bé trưởng thành. Mọi thắc mắc liên quan đến quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua số điện thoại 1900.633.705 để được luật sư giải đáp chuyên sâu!

 

>> Xem thêm: Điều kiện và thủ tục giành quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi

dich-vu-luat-su-ly-hon-ly-hon-don-phuong-khi-vo-dang-mang-thai
Dịch vụ Luật sư ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai

 

Dịch vụ Luật sư ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai

 

>> Giải đáp mọi thắc mắc về ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai, gọi ngay 1900.633.705

Hiện nay, Tổng Đài Pháp Luật được biết đến là một đơn vị tư vấn và tiên phong đi đầu trong việc cung cấp các dịch vụ pháp lý chuyên sâu, bao gồm tư vấn pháp luật và giải quyết tranh chấp. Với đội ngũ Luật sư, chuyên viên tư vấn giỏi, năng động, am hiểu đa lĩnh vực, Tổng Đài Pháp Luật trở thành sự lựa chọn hàng đầu của nhiều cá nhân, tổ chức trong nước cũng như nước ngoài. Nếu như bạn đang có thắc mắc cũng như gặp các vấn đề về ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai, hãy liên hệ đến dịch vụ Luật sư của tổng đài. Chúng tôi luôn sẵn sàng hỗ trợ bạn các nội dung công việc sau đây để giúp bạn tiết kiệm thời gian và công sức đi lại, cụ thể:

Tư vấn, hỗ trợ điều kiện để có thể ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai;

Tư vấn, hỗ trợ soạn thảo đơn ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai;

 Tư vấn, hỗ trợ thu thập tài liệu, chứng cứ cần thiết cho khách hàng để hoàn thiện hồ sơ ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai. Trường hợp cần thiết, chúng tôi có thể xử lý việc thiếu hồ sơ của khách hàng;

Tư vấn, hỗ trợ thực hiện thủ tục ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai một cách nhanh gọn, tiết kiệm thời gian nhất;

Luật sư tư vấn, hỗ trợ giải quyết tranh chấp giành quyền nuôi con khi ly hôn; yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Luật sư tư vấn, hỗ trợ giải quyết các tranh chấp tài sản chung, nợ chung của vợ chồng; tranh chấp xác định tài sản riêng của vợ và chồng; xác định khi tài sản chung vợ chồng chỉ đứng tên một người khi ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai.

Liên hệ Luật sư ly hôn – Tổng Đài Pháp Luật

 

>> Đặt lịch hẹn tư vấn với Luật sư ly hôn giỏi, gọi ngay 1900.633.705

Ly hôn là một hiện tượng xã hội bất bình thường, tuy nhiên nó lại cần thiết để đảm bảo quyền tự do trong hôn nhân cũng như là một biện pháp để củng cố hôn nhân tự nguyện và tiến bộ. Nếu như bạn đang có thắc mắc, đang gặp các vấn đề khi tiến hành ly hôn hoặc cần tư vấn pháp lý về lĩnh vực hôn nhân và gia đình, cụ thể như: điều kiện ly hôn đơn phương; tranh chấp giành quyền nuôi con khi ly hôn; phân chia tài sản khi ly hôn; hồ sơ, trình tự thủ tục tiến hành… bạn có thể tìm đến Luật sư của chúng tôi, với ưu điểm về chuyên môn và sự tận tâm Luật sư sẽ giúp bạn giải đáp. Thông tin và cách thức liên hệ

Tổng Đài Pháp Luật như sau:

Số điện thoại: 1900.633.705

Website: tongdaiphapluat.vn

Email: tongdaiphapluat.mkt@gmail.com

Trên đây là những thông tin chi tiết về ly hôn đơn phương khi vợ đang mang thai. Hy vọng bài viết trên sẽ giúp bạn nắm rõ và hiểu sâu về những quy định của pháp luật trong quá trình ly hôn. Mọi thắc mắc liên quan đến vấn đề này, đội ngũ luật sư của chúng tôi luôn sẵn sàng tư vấn và hỗ trợ bạn. Hãy liên hệ đường dây nóng 1900.633.705 để nhận được sự hỗ trợ nhanh chóng từ chúng tôi!

  1900633705